I was alomost about to loose my faith Was still dreaming but feared it was too late But then you came along to my surprise And stoke my heart before my very eyes
Chorus : You took me right out of the blue Simply by showing that you love me too Only by giving me your everything with a love so true You took me out of the blue
I was wondering what love was all about I was trying but couldn't work it out But then you came along to my surprise And made my frozen mind come alive
[Chorus]
You let me out of the darkness you brought me out in the sun I think you must be the only one for me 'cos you took me
Right out of the blue Simply by showing that you love me too Only by giving me your everything Breathing air below my wings You took me right out of the night Simply by filling my heart with light Only by giving me your energy With a love so true you took me out of the blue
Khác với hình ảnh Nam Mai giản dị trong bộ phim truyền hình dài tập “Có lẽ nào ta yêu nhau” đang chiếu trên VTV1, trong khuôn hình mới nhất, Ngọc Quyên ở trong tư thế bán nude, để lộ khuôn ngực gợi cảm, những phần “tế nhị” được che bằng tay. Tất cả được bao trùm bằng một sắc hồng trẻ trung, điệu đà và "siêu" quyến rũ.
Trong 4 shoot hình tiếp theo, cô người mẫu thủ vai chính của bộ phim này mặc một chiếc đầm trắng đính lộng lẫy nhưng cũng phô rõ đường cong đẹp đầy chất đàn bà.
Mời bạn ngắm nhìn:
Ngọc Quyên dưới góc máy của nhiếp ảnh gia Nguyễn Long
Cô người mẫu 21 tuổi giờ đây đang sở hữu một vẻ đẹp đầy chất đàn bà...
Chỉ cần đứng ở các đầu ô, theo dõi sự giao lưu hàng hóa trên con đường nối Hà Nội với các tỉnh, người ta cũng sớm nhận ra thực chất các mối quan hệ giữa đô thị với các vùng nông thôn chung quanh trong thời điểm hiện nay.
Đổ lên phố xá, chỉ thấy gạo nước, những bu gà (trước đây còn cả những con lợn đã mổ), những xe thồ chở rau kềnh càng, hàng đoàn xe đạp ngất nghểu cây cảnh. Xuôi đi các tỉnh thì trăm thứ hầm bà lằng, vải vóc, quần áo, đồ điện, thuốc tây,... và cả những đồ chơi trẻ con.
Ngày xưa có ai đi mua diều để thả bao giờ? Bố khéo tay thì làm cho con con diều. Thô sơ, mộc mạc, nhưng mà đúng “cây nhà lá vườn” và hợp với khung cảnh quê mình. Ngày nay, mùa hè, diều từ Hà Nội đưa về là diều nhựa, xanh xanh đỏ đỏ, ai cũng biết là nhập từ Trung quốc.
Kiểu quan hệ hai chiều như thế, kể ra, cũng là một bước phát triển. Nông thôn đang được hưởng nhiều thành tựu của công nghiệp.
Chỉ phiền một nỗi, nông thôn lao động đã thừa, giờ đây càng thừa thêm. Những ngày nông nhàn, ngoài việc chạy chợ, người ta không biết làm gì. Thị trường cổ truyền bị thu hẹp. Người làm nghề phụ đang mất đất ngay trên quê hương mình.
Tôi không ngớ ngẩn đến mức đề nghị bịt đường, không cho hàng hóa thành thị về nông thôn. Tôi chỉ ước ao thực hiện cái điều nhiều người đã biết, là làm sao các nghề phụ ở nông thôn được tổ chức lại, từng vùng có mặt hàng riêng, đủ sức cạnh tranh với các mặt hàng ngoại nhập (nếu không tốt hơn, đẹp hơn, thì cũng rẻ hơn, vừa túi tiền hơn). Nó là chuyện giải quyết lao động thừa. Nó lại cũng là một cách để giữ gìn một số làng nghề truyền thống và nhìn rộng ra, là giữ gìn bản sắc của dân tộc mình.
Có điều, đây là cả một quy trình phức tạp. Phải có vốn. Phải có kỹ thuật mới. Phải tạo được mô hình hoạt động thích hợp… Và trước tiên những người làm nghề phải có ý thức kết hợp với nhau.
Nhưng đây đang là một tử huyệt của chúng ta. Nghĩa là muốn làm lắm mà không làm nổi. Không ai bảo được ai. Không ai thấy người khác hơn mình, không ai tin sự chí công vô tư ở những người được bầu ra quản lý. Trong bụng ai cũng ngại.
“Nền sản xuất của chúng ta hiện trong tình trạng quá manh mún. Nếu không được tổ chức lại, chúng ta rất khó cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài”. Còn nhớ từ hồi chuẩn bị cho việc gia nhập WTO, các nhà kinh tế đã cảnh báo như vậy. Nhìn vào ngành nào tôi cũng thấy họ cùng một giọng tiên đoán: “Nếu các công ty du lịch của chúng ta không liên kết lại, làm sao mở rộng hoạt động…”; “ Nếu các điền chủ Việt Nam không liên kết lại, làm sao cạnh tranh nổi với hàng nông sản nước ngoài”.
Nhưng những lời kêu gọi ấy trước sau đều rơi vào quên lãng. Một lần đọc báo thấy nói các công ty trong nước mang thanh long sang nước ngoài bán. Lúc đầu mọi người còn bảo nhau thống nhất giá. Sau một vài người đi đêm với khách, bán phá giá. Thế là người mua càng được dịp bắt chẹt ép giá.
Cụm cảng Sài Gòn hiện nay gồm nhiều cảng nhỏ, số lượng đâu đến mấy chục cái (!). Nhưng toàn những cảng chỉ đón được tàu vài chục ngàn tấn. Hệ thống cảng của ta đang xảy ra tình trạng vừa thiếu vừa thừa. Trong hoàn cảnh thế giới sử dụng toàn tàu lớn thì số cảng như thế không thừa sao được? Song lại vẫn là thiếu vì các loại tàu từ trăm ngàn tấn trở lên muốn chở hàng vào Việt Nam, thường phải đổ hàng ở cảng lớn của các nước bên cạnh, như Singapore, rồi “tăng bo” qua Việt Nam. Trong cảnh ế hàng, các cảng tí xíu phải hạ giá để mời khách hàng chiếu cố, và giữa các cảng có sự giành tranh khách rồi lườm nguýt nhau đến khổ.
Không chỉ trong sản xuất, căn bệnh làm ăn lẻ và nếp sống rời rạc “anh hùng nhất khoảnh” cũng đang chi phối cả xã hội và nó tác oai tác quái hàng ngày. Nhiều con đường, anh giao thông vừa làm xong, anh điện lại ra đào lên để đặt đường điện, anh nước san lấp để đặt ống nước. Hàng hóa lúc thiếu thì mua tranh bán cướp, nhưng vừa cảm thấy thừa là đua nhau bán phá giá. Mỗi bộ mỗi ngành một luật lệ riêng, người dân vào đâu lại phải lựa đấy. Nếu những ví dụ tương tự như trên có thể nêu ra rất nhiều thì câu hỏi đặt ra là tại sao chúng ta khó hợp tác với nhau đến vậy. Tôi nghĩ rằng đã đến lúc không chỉ các nhà kinh tế, mà các nhà nghiên cứu tâm lý xã hội cũng cần phải có mặt.
Lại nhớ một nhận xét của K. Marx về người nông dân sản xuất nhỏ lẻ: Họ giống như những củ khoai tây cùng nằm trong một bao tải. Đúng là giống nhau thật nhưng giữa họ lại chẳng có liên hệ gì với nhau hết. Mạnh ai nấy sống. Đôi khi người này tưởng rằng người kia là nguyên nhân của mọi bất hạnh của mình. Và chen cạnh nhau, phá hại nhau, làm cho nhau bầm dập đau đớn mới thôi. Có thể khoác đủ mọi tên gọi khác nhau, song thứ tâm lý tiểu nông này đã tồn tại dai dẳng và làm nên tình trạng “ta hại mình”, níu kéo, kìm hãm sự phát triển của toàn xã hội.
Giới trẻ cũng có nhiều người hay, có những người thật sự là élite của xã hội mới, ở nhiều khía cạnh họ tinh hoa hơn bọn tôi nhiều lắm. Nhưng người élite trẻ thì có, còn giới élite trẻ thì chưa.
1. Tiếp xúc với các bạn trẻ, ở tầng lớp có học, một điều dễ nhận thấy là sự tự tin. Tự tin lắm. Khác với bọn tôi khi còn trẻ thường rất rụt rè, nhất là đứng trước những người lớn tuổi, những người từng trải hơn mình, những người có tên tuổi, địa vị hơn mình. Đôi lúc tôi có cảm giác “sự tự tin trẻ tuổi ấy” đến từ những điều “không hiểu”: không hiểu mình ở đâu không hiểu mình nói với ai, không hiểu mình thật sự là ai... Nói chuyện với tôi vài lần một nhạc sĩ trẻ tâm sự “Bây giờ cháu mới hiểu, cháu cũng không giỏi hơn chú.” (Dĩ nhiên có thể bạn ấy giỏi hơn, nhưng tự cho người khác kém mình khi chưa biết gì nhiều về người ấy thì không ổn lắm).
Tôi có cảm tưởng các bạn trẻ biết nhiều nhưng sự hiểu lại không được như thế. Khi không có sự cân bằng cần thiết người ta dễ trở thành kẻ ba hoa mà không hay biết, khiến thái độ tự tin của ta trở thành sự thiển cận đáng ghét. Hiểu biết phải được tích lũy từ nhỏ, nó không đơn giản chỉ là việc tiếp thu kiến thức khi ta còn ngồi trên ghế nhà trường, càng không chỉ là vấn đề tự học, cũng không chỉ bằng việc đọc nghe xem (đấy là chưa nói tới việc đọc xem nghe cái gì) mà còn là những va chạm, trải nghiệm trong cuộc đời thực, là việc chúng ta sử dụng quĩ thời gian như thế nào cho việc tích lũy, là việc cơ thể của chúng ta được sống như thế nào (cơ bắp có thường xuyên vận động không, năm giác quan: thính giác, thị giác, khứu giác, xúc giác, vị giác có được sống phong phú?). Hiểu biết được hình thành như thế làm nên sự tự tin. Cái tự tin ấy mới thật đáng quí và có lẽ nó là một trong những phẩm chất hàng đầu cần phải có nếu ta muốn thành công.
2. Tôi quan sát thấy giới trẻ hiện nay ngông cuồng liều lĩnh hơn, muốn chứng tỏ, muốn làm khác người hơn thời bọn tôi. Ngông cuồng liều lĩnh (chứ không phải là sự táo bạo), muốn chứng tỏ (chứ không phải là tự tôn), muốn làm khác người (chứ không phải là có cá tính)… là những nét tâm lý thông thường thuộc về lứa tuổi, là cái trẻ của tuổi mà gọi đúng chữ là trẻ con. “Trẻ con” lâu quá là một điều không hay. Cái chúng ta cần là cái trẻ của sống chứ không phải là cái trẻ của tuổi, sống trẻ chứ không phải trẻ con. Các bạn trẻ lớn lên trong hoàn cảnh xã hội khác bọn tôi, có nhiều điều kiện thuận lợi hơn nhưng được gia đình và xã hội nuông chiều quá. Nên cái sự “trẻ con” này ở lâu quá trong tính cách có lẽ là điều khó thể tránh khỏi.
Thi sĩ Tản Đà đã từng than thở:
Dân ba mươi triệu đâu người lớn Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con.
Chính là cái trẻ con này đó. Sự trưởng thành của một thế hệ không tính bằng số tiền họ kiếm được mà bằng cái tầm văn hóa mà họ đạt tới, nhưng tôi nghĩ rằng nhiều bạn trẻ đã nghĩ khác.
Biết kiếm tiền và kiếm được nhiều tiền, tuổi trẻ bây giờ khôn ngoan hơn thế hệ tôi nhiều lắm. Trong hoạt động văn hóa, họ “tiếp thị” bản thân rất giỏi. Hãy tham dự những cuộc triển lãm, những cuộc trình diễn, hãy đọc báo chí xem họ viết về họ thì sẽ hiểu thế hệ chúng tôi là một thế hệ khờ khạo. Trong một bài báo tôi có viết: “ Khôn khéo lọc lõi là phẩm chất của sự già nua. Ngông cuồng muốn tỏ ra, muốn khác người lại là tính khí trẻ con. “Trẻ con” không làm ra nghệ thuật và sự “già nua” cũng thế” (Sống trẻ - Doanh nhân cuối tuần). Mà đâu chỉ ở trong nghệ thuật. Điều này đúng hầu như ở mọi lĩnh vực. Một thế hệ tốt không thể đồng sở hữu một lúc cả hai “phẩm chất” đối nghịch như thế.
3. Tôi sống trong hẻm, suốt ngày nhạc thị trường, không muốn nghe cũng phải nghe. Trong hàng ngàn câu hát có một câu tôi bị nghe nhiều lần: “Tình yêu đến em không mong đợi gì, tình yêu đi em không hề hối tiếc”. Một sự vô cảm khủng khiếp! Dĩ nhiên đây chỉ là một câu hát, người viết ra nó. người nghe nó là giới trẻ - những người chắc không phải là những người tinh hoa trẻ tuổi - song nó vẫn khiến tôi lo ngại về một lời cảnh báo thực sự. Trong vòng hơn chục năm trở lại đây dấu hiệu của sự vô cảm ngày càng rõ. Nội tâm nghèo nàn, phản ứng yếu ớt trước cái xấu, trước sự tha hóa, thích sự hào nhoáng choáng lộn bên ngoài, đánh mất phản ứng với cái giả... là những biểu hiện rõ nhất. Đi theo sự vô cảm là một lối sống và một cách nghĩ cũng rất “có vấn đề”. Đập vào mắt tôi hàng ngày là những tấm biển quảng cáo của một hãng mỹ phẩm có một câu slogan “để đời”: “Sống là không chờ đợi”. Đây không phải là một câu nói chơi nếu ta nhìn vào những gì đang diễn ra hiện nay. Các bạn trẻ rất ưa chuộng thời trang và đổi mốt liên tục. Cái chưa thành đã phá bỏ để thay vào một cái khác, cuối cùng chẳng thành một cái gì cả. Cho nên chữ “đổi mới” có nguy cơ biến thành nơi ẩn náu của sự phá hoại. Sống gấp, sống vội, sống với cái trước mắt, không nhìn thấy muốn làm được một cái gì đó phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, phải có một quá trình, đương nhiên các bạn sẽ nôn nóng, thiếu kiên nhẫn, một thói xấu tai hại cản trở sự phát triển và ngăn trở người ta đến với thành công đích thực. Nếu giới trẻ quả thật là như thế thì những élite của thế hệ họ sẽ ra sao?
4. Tôi thường nhận được một câu như thế này ở những người bạn trẻ tuổi: “Chú đúng là lơ mơ thật, chẳng thực tế một chút nào”. Quả thật các bạn trẻ đã nhận ra sự vượt trội của họ trong chuyện này. Tôi thì đã đành, lơ mơ bẩm sinh. Còn bạn bè tôi không đến nỗi tệ như thế, nhưng tôi thừa nhận là họ, so với lớp trẻ hậu sinh cũng “chẳng thực tế chút nào”. Tuy nhiên có một điều ta cần để ý là ranh giới giữa thực tế và thực dụng rất mong manh. Trong cuộc sống, thực tế là tối cần thiết nhưng thực dụng thì nguy hiểm. Người thực dụng thì được nhiều (những giá trị vật chất) nhưng cũng mất nhiều (những giá trị tinh thần, thứ mà tiền bạc không thể mua được). Không biết các bạn đã suy nghĩ kỹ về điều này chưa?
5. Mục đích của việc học tập là để tạo dựng tri thức nền tảng (văn hóa nền), hoàn thiện nhân cách và phát triển cơ thể để làm người. Giới trẻ bây giờ được sự ủng hộ của gia đình và xã hội có mục đích học cụ thể hơn nhiều: Học nhằm kiếm mảnh bằng để làm quan và để làm giàu. Việc hoàn thiện nhân cách và văn hóa nền bị đặt xuống hàng thứ yếu. Kết quả nằm ở những mẩu đối thoại sau đây:
- Bạn có lý tưởng không? - Không! - Bạn có mục đích sống không? - Có - Mục đích ấy là gì? - Học ngành ngân hàng, quản trị kinh doanh hoặc luật để có một chỗ làm tốt, lương cao.
“Mãi mãi tuổi hai mươi bây giờ có bằng cấp, chỗ làm tốt, lương cao”. Không thể “mãi mãi Đặng Thùy Trâm”. Đặng Thùy Trâm là một nhân vật của quá khứ, cái quá khứ một đi không trở lại và đang bị lãng quên mỗi ngày.
Thế hệ bọn tôi là Thế hệ Việt Minh. Thế hệ Đặng Thùy Trâm là Thế hệ Chống Mỹ Cứu Nước. Thế hệ sinh ra sau chiến tranh là thế hệ gì? Một câu hỏi mà tôi muốn các bạn trẻ trả lời.
6. Tôi có may mắn được làm việc cùng với các nhạc sĩ trẻ và có dịp tiếp xúc với một số bạn trẻ ở những ngành khác nhau. Nhiều người trong số họ là những nhân vật hàng đầu, tốt nghiệp ở những trường đại học danh tiếng ở nước ngoài. Có thể coi họ là những élite đương đại. Thông minh, sắc sảo, có kiến thức chuyên ngành rất sâu rộng và mở trong suy nghĩ về con người và nhiều vấn đề xã hội, điều mà bọn tôi phần lớn là hẹp và đóng hơn. Khả năng thích ứng với môi trường mới tốt hơn bọn tôi nhiều. Nhưng... có vẻ họ chỉ sống trong hiện tại, cho hiện tại. Quá khứ nhẹ bỗng, đôi lúc họ thăm viếng nó như một khách du lịch, đôi lúc chơi với nó như một thứ trò chơi trong những ngày lễ hội. Tôi là một người- ngày- xưa, hay để ý đến chuyện gốc và mất gốc nên lờ mờ nghĩ rằng vài chục năm nữa, nếu cứ đà như thế này chúng ta sẽ có một Việt Nam khác, quốc tế hơn cả Singapore. Nước Việt Nam ấy sẽ có nhiều chuyên gia giỏi, nhiều công nhân tay nghề cao làm việc cho các hãng, các tập đoàn siêu quốc gia, sẽ sử dụng một thứ siêu ngôn ngữ có tỷ lệ 10% từ thuần Việt 40% từ Hán Việt, 50% từ tiếng Anh (ví dụ khi viết thư tình, cụm từ “Anh yêu em” cầm chắc sẽ được thay thế bằng "I love you”). Và người giàu có sẽ mở tài khoản ở các ngân hàng Thụy Sĩ, mua bất động sản ở Singapore, ở Pháp, Anh Quốc và Mỹ để lấy chỗ cho con cái đi học và cho mình nghỉ ngơi (còn dân trung lưu sẽ mua nhà ở Vientiane, Luang Phabang bên Lào để một năm vài tháng sang đó thụ hưởng đời sống thanh bình). Tôi mong rằng cái ý nghĩ lờ mờ này chỉ là do bị ám ảnh bởi những suy tưởng sai lầm của mình.
Người Việt Nam tinh hoa trước tiên phải là một người nặng nợ với nơi mình sinh ra, yêu tiếng mẹ đẻ và nền văn hóa dân tộc rồi mới nói đến trình độ học thức, sự chuyên sâu và một năng lực thẩm mỹ cao dựa trên nền tảng văn hóa cơ bản vững vàng, dầy dặn. Người tinh hoa phải có khả năng tỏa sáng và lôi cuốn người khác trong những công việc mang lại lợi ích cho nhân dân và Tổ quốc mình. Tinh hoa không chỉ là giá trị trên phương diện nhận thức mà còn là giá trị trên phương diện hành động. “Trí thức trùm chăn” thì dù giỏi đến mấy, tinh tế đến mấy cũng không thể gọi là tinh hoa được. Và những “trí thức mất gốc” thì cũng thế.
7. Nhìn nhận giới trẻ như thế liệu có bi quan quá không?
Thời buổi này đáng sợ nhất là thái độ lạc quan tếu và sự ảo tưởng. Kết cục của nó sẽ là một bi quan tuyệt đối. Tôi không ảo tưởng và cũng chẳng bi quan, bởi cuộc sống là như thế. Những người có lương tâm một chút, hiểu biết một chút, ai cũng nhận ra sống bây giờ vui ít buồn nhiều bởi có rất nhiều cái chưa được, nhiều cái hỏng, nhiều sự thoái hóa ở ngay chính bản thân mình, của gia đình mình, của xã hội chứ chẳng cứ gì của giới trẻ. Thật khó mà có thể cất cao giọng hát cái câu hát của anh Trịnh Công Sơn “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”. Không có nhiều niềm vui đến như thế để chúng ta chọn lựa. Tôi đã trải qua một cuộc sống gian khổ mới nghiệm ra rằng chính nỗi buồn chứ không phải niềm vui, mới là quan trọng. Nhờ nó mà ta sống tốt hơn, nhờ nó mà ước muốn đổi thay, nhờ nó mà đi tới.
8. Giới trẻ cũng có nhiều người hay, có những người thật sự là élite của xã hội mới, ở nhiều khía cạnh họ tinh hoa hơn bọn tôi nhiều lắm. Nhưng người élite trẻ thì có, còn giới élite trẻ thì chưa. Thế hệ bọn tôi cũng thế, cũng chưa nốt. Chỉ có thế hệ các cụ, những người tinh hoa làm thành hẳn một tầng lớp xã hội, tầng lớp này tham gia cách mạng trở thành những nhân vật chủ chốt của một cuộc cách mạng ngoạn mục nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại: Lật đổ chế độ thực dân xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, một quốc gia độc lập có chủ quyền đầu tiên trong hệ thống thuộc địa Pháp. Hãy nhìn vào thành phần chính phủ Cụ Hồ năm 1945 thì có thể hiểu được điều này. Vậy làm thế nào để những người tinh hoa trẻ trở thành một tầng lớp, một lực lượng có vai trò dẫn đạo xã hội như các cụ ngày xưa (và như tất cả những gì mà giới élite ở các quốc gia phát trên khác làm được)? Người tinh hoa chẳng thể từ trên trời rơi xuống, nó vẫn là sản phẩm của một nền giáo dục, một hệ thống chính trị và một cấu trúc xã hội nhất định. Giới trẻ hiện nay chính là sản phẩm của nền giáo dục, hệ thống chính trị và cấu trúc xã hội của chúng ta. Tìm ra những khiếm khuyết của giới trẻ rồi đổ lỗi cho họ là sai lầm, là vô trách nhiệm.
Làm thế nào để có nhiều người trẻ tinh hoa, và để những người trẻ này liên kết với nhau thành thành một giới, một lực lượng giữ vai trò quyết định tương lai của dân tộc? Câu hỏi này dành cho những nhà hoạch định chính sách, những nhà cải cách giáo dục, những trí tuệ lãnh đạo và có thể là cả túi tiền của các đại gia.
Một nghiên cứu của Anh nhận định, làm việc nhiều giờ một lúc có thể làm tăng nguy cơ mất trí. Những người làm việc ít hơn 41 giờ/tuần thường có kỹ năng làm việc liên quan đến trí nhớ tốt hơn. Theo nghiên cứu, chúng ta làm việc trong thời gian càng nhiều giờ càng làm tăng nguy cơ bị mất trí hoặc giảm trí nhớ, đặc biệt là làm việc trong nhiều giờ cùng một lúc.
Những người công nhân trung tuổi làm việc hơn 55 giờ/tuần thường có những kỹ năng làm việc trí óc thấp hơn những người chỉ phải làm việc ít hơn 41 giờ/tuần. Các nhà khoa học đã chứng minh đó là khoảng thời gian tốt nhất cho những kỹ năng làm việc có liên quan đến trí nhớ ngắn và trí nhớ lâu dài cũng như khả năng ghi nhớ từ ngữ.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra, căng thẳng và kiệt sức vì làm việc trong nhiều giờ cũng làm não bộ bị phá huỷ nhanh chóng. Mức độ nguy hiểm này được so sánh với những người hút thuốc.
Theo khảo sát, ở Anh, số lượng người làm việc 48 giờ/tuần chiếm 1/8 và đây là con số lớn nhất trong khu vực châu Âu. Chính vì vậy, ở Anh cũng có nhiều người luôn trong tình trạng căng thẳng, mệt mỏi và suy kiệt cả về thể xác lẫn tinh thần.
Đây là kết quả nghiên cứu trong cuộc khảo sát với 2.214 người Anh. Những nhà nghiên cứu nhận định, nếu con người mà không xác định được lượng thời gian làm việc trong một ngày thì thực sự nguy hiểm cho trí não, nhất là khi chúng ta bước sang thời kỳ trung tuổi.
Giáo sư Marianna Virtanen, người dẫn đầu nhóm nghiên cứu từ viện Sức khoẻ cộng đồng ở Phần Lan đã tìm hiểu về những người lao động từ những năm 80 đến hiện tại và nhận xét khoảng 39% người lao động làm việc ít hơn 40 giờ/tuần, 53% làm việc trong khoảng 41 – 55 giờ/tuần và 8% là số người làm việc hơn 55 giờ/tuần.
Giáo sư Cary Cooper, một chuyên gia nghiên cứu về sự căng thẳng ở người nói thêm, làm việc nhiều giờ làm cho bạn luôn cảm thấy, làm việc không hiệu quả là ảnh hưởng đầu tiên. Tiếp sau đó não bộ của bạn bị ảnh hưởng trầm trọng. Không những vậy, khi quá căng thẳng với công việc, thái độ sống và cách cư xử với những người xung quanh cũng giảm đi, ảnh hưởng rất nhiều đến các mối quan hệ của bạn.