Hiển thị các bài đăng có nhãn MÔI TRƯỜNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn MÔI TRƯỜNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2009

Tăng trưởng châu Á thúc đẩy biến đổi khí hậu

Tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng của châu Á trong những năm gần đây góp phần đáng kể vào quá trình thay đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường, theo cảnh báo của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB).

Người dân Trung Quốc đạp xe qua
Bầu không khí xung quanh một nhà máy tại thành phố Yutian, Hồ Bắc, Trung Quốc trở nên xám xịt vì khí thải của nhà máy này. Ảnh:

“Chúng ta phải gia tăng các nỗ lực để sự phát triển kinh tế của châu Á không tạo ra nhiều khí thải carbon. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao giúp hàng trăm triệu người thoát khỏi đói nghèo, đồng thời nâng cao mức sống của toàn bộ châu lục. Tuy nhiên, phát triển kinh tế đang kéo theo tình trạng ô nhiễm môi trường, trong đó có sự gia tăng của khí thải gây hiệu ứng nhà kính”, Chủ tịch ADB Haruhiko Kuroda phát biểu trong một diễn đàn về biến đổi khí hậu tại Philippines hôm 17/6.

Ông Kuroda cho biết, hiện nay các nước đang phát triển chiếm khoảng 1/3 lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Phần lớn khí thải tại các nước này được tạo ra trong quá trình sử dụng đất, khai thác năng lượng và phá rừng. “Nếu không tiến hành các biện pháp cấp bách ngay từ bây giờ, tỷ lệ khí thải gây biến đổi khí hậu của châu Á sẽ tăng lên mức hơn 40% trước năm 2030”, ông cảnh báo.

ADB đang tìm cách giải quyết tình hình và đã cấp gần 1,7 tỷ USD cho các dự án phát triển năng lượng sạch (như xây dựng nhà máy phong điện) tại Trung Quốc, Ấn Độ. “Các quốc gia châu Á cũng đang nỗ lực tìm ra những phương thức phát triển kinh tế mà không gây biến đổi khí hậu, trong đó có việc phát triển năng lượng tái sinh và công nghệ thân thiện với môi trường”, Kuroda nói.

Phát biểu tại diễn đàn, Eric Hall, một chuyên gia về khí hậu của Liên Hợp Quốc, khẳng định rằng có nhiều dấu hiệu đáng mừng về viễn cảnh một thỏa thuận quốc tế về biến đổi khí hậu sẽ ra đời vào tháng 12 năm nay tại Copenhagen (Đan Mạch).



Thứ Hai, 22 tháng 6, 2009

NGHỊ ĐỊNH Về quản lý chất thải rắn

CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Căn cứ Luật Xây dựng ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Xây dựng,
NGHỊ ĐỊNH :
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi áp dụng
Nghị định này quy định về hoạt động quản lý chất thải rắn, quyền và
nghĩa vụ của các chủ thể liên quan đến chất thải rắn.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước;
tổ chức, cá nhân nước ngoài (sau đây gọi tắt là các tổ chức, cá nhân) có hoạt
động liên quan đến chất thải rắn trên lãnh thổ Việt Nam.
Trong trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên có quy định khác với các quy định trong Nghị định này thì
áp dụng Điều ước quốc tế đó.


Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2009

Xe buýt Hà Nội phun khói đen kịt

Mỗi khi rời bến hay tăng ga, những chiếc xe buýt lại phun ra luồng khói đen kịt khiến người đi đường phải tránh vội sang bên để khỏi hít phải luồng không khí ngột ngạt ngày hè. VnExpress.net ghi lại hình ảnh tại Hà Nội.
>
Clip khói xe buýt phun mù đường

Xe càng rồ ga đi nhanh, luồng khói đen phả ra càng mạnh.
Và đám khói này bị cuốn theo khi chiếc xe lao vun vút trên đường Hồ Tùng Mậu.
Hậu quả là những người đi sau phải hứng khói.
Theo những sinh viên thường xuyên đợi xe ở trước cổng ĐH Thương mại, đây là một trong những chiếc xe buýt phun nhiều khói nhất.
Sau nhiều năm vận hành lại phải thường xuyên chở quá tải, nhiều xe buýt của Hà Nội luôn trong tình trạng xả khói như thế này.
Do ống khói được cắm thẳng xuống mặt đường nên khi đi vào những đoạn đường bụi, chính ống khói này lại là chiếc vòi thổi tung đám cát bụi dưới mặt đường Xã Đàn, ngày 17/6.


Đô thị Việt Nam: Khí thải độc hại vượt xa mức cho phép


ImageNhững con số công bố mới đây cho thấy, tất cả các loại khí thải độc hại ở tại các đô thị Việt Nam đều đã quá mức tiêu chuẩn cho phép rất nhiều.
Thiệt hại từ 0,3- 0,6% GDP


Ông Michael Walsh thuộc Hội đồng quốc tế về giao thông sạch (ICCT) Hoa Kỳ đưa ra thông tin giật mình: Mức độ ô nhiễm bụi khói một số điểm ở Hà Nội qua đo thực tế đã tới 500à/m3, gần bằng mức độ ô nhiễm khói lẫn trong sương mù năm 1952 ở Luân Đôn làm hàng nghìn người tử vong.


Trong khi đó nguyên nhân chính là do lượng phát thải từ môtô xe máy hiện đang bị thả nổi không kiểm soát được. Tham luận của ông Lê Anh Tú - Cục Đăng kiểm Việt Nam - cũng cho thấy các loại khí độc hại như HC, Co, SO2, CO2, NOx trong không khí tại các đô thị Việt Nam đều vượt, thậm chí gấp hơn hai lần tiêu chuẩn cho phép ở những khu vực mật độ giao thông cao.


Theo thống kê khảo sát của ông Nguyễn Tương Sơn, mỗi năm có 626 người chết và 1.547 người bị mắc bệnh hô hấp do không khí ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Cũng theo tính toán của Viện Y tế lao động, Hà Nội bị tổn thất mỗi ngày 1 tỷ đồng do ô nhiễm không khí.


Trong đó, phát thải xe máy là nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí. Mức thiệt hại về kinh tế do khí thải xe máy được các nhà nghiên cứu đưa ra là hơn 50 triệu USD/ năm tại TP Hồ Chí Minh và hơn 20 triệu USD/năm tại Hà Nội. Đáng ngại là mức thiệt hại ngày càng tăng, chiếm từ 0,3 -0,6 % GDP của TP. Trong khi đó, lượng xe máy không ngừng tăng, năm 2006 đã lên tới con số 18 triệu xe.


Không thể chần chừ



Các quốc gia như Ấn Độ, Thái-lan... là những nước có nhiều xe môtô xe gắn máy đều thực hiện việc kiểm soát phát thải xe máy. Mặc dù mỗi quốc gia có những biện pháp khác nhau, nhưng theo như ông Michael Walsh thì đều nằm trong những hình thức chung sau.


Thứ nhất: Kiểm soát công nghệ sản xuất môtô xe máy, áp dụng tiêu chuẩn khí thải Euro 2-4. Thứ hai sử dụng nhiên liệu sạch, có động thái kiên quyết tách các chất độc hại như chì (Việt Nam đã làm ) lưu huỳnh... ra khỏi xăng. Thứ ba phải quy hoạch giao thông hợp lý giảm thiểu tắc nghẽn giao thông vì khi các phương tiện bị tắc nghẽn nồng độ khí thải độc hại tăng đột biến. Thứ tư có chế độ bảo dưỡng thích hợp với xe máy. Thứ năm là có lộ trình loại bỏ xe máy cũ.


Với hiện trạng ô nhiễm không khí từ phát thải xe máy đang báo động tại Việt Nam, Cục Đăng kiểm Việt Nam cũng đưa ra ba nhóm giải pháp. Nhóm giải pháp trước mắt, gồm: Kiểm tra khí thải định kỳ cho xe đang lưu hành với lộ trình phù hợp; áp dụng tiêu chuẩn Euro 2 cho xe mới; nâng cao chất lượng nhiên liệu phù hợp với tiêu chuẩn phương tiện. Nhóm giải pháp thường xuyên lâu dài gồm: Quản lý điều hành tổ chức giao thông giảm ùn tắc, nâng cao ý thức cộng đồng và ý thức bảo vệ môi trường của người dân.


Nhóm giải pháp hỗ trợ gồm: Lắp đặt bộ xử lý khí thải cho xe đang sử dụng; sử dụng các loại thuế phí môi trường như một công cụ điều tiết lượng xe máy, khuyến khích loại bỏ xe cũ...

Tuy nhiên, khó khăn khi thực hiện kiểm soát khí thải xe máy tại Việt Nam còn do lượng xe quá lớn, đòi hỏi một lực lượng thiết bị và nhân lực lớn, thói quen sử dụng xe máy tự do của người dân khiến các nhà quản lý vẫn phải nghiên cứu cân nhắc.

Công nghệ xử lý chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại

Xử lý chất thải rắn là một bài toán hóc búa đối với các nhà nghiên cứu...



Sự thiếu đồng bộ trong quản lý cộng với sự gia tăng nhanh chóng của chất thải rắn công nghiệp (CTRCN) và chất thải nguy hại (CTNH) ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (VKTTĐPN) đã và đang gây nên những ảnh hưởng xấu tới môi trường. Bài viết dưới đây giới thiệu một số giải pháp công nghệ xử lý chất thải để các địa phương tham khảo.

Về CTRCN và CTNH ở VKTTĐPN

Vùng KTTĐPN bao gồm thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Tây Ninh, Bình Phước, Long An. Vùng đã và đang hình thành các trung tâm đô thị, thương mại dịch vụ, công nghiệp lớn vào bậc nhất nước ta. Tuy nhiên, quá trình phát triển với tốc độ cao trên toàn vùng đã và đang làm phát sinh một khối lượng lớn CTRCN và CTNH, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường. Ta có thể thấy điều này qua một số thống kê. Tại thành phố Hồ Chí Minh, lượng phát thải CTRCN và CTNH từ các cơ sở công nghiệp trên thành phố khoảng 1.502 tấn/ngày, trong đó CTNH khoảng 300 tấn/ngày. Số liệu tương tự tại Đồng Nai là 300 tấn và 60 tấn. Tại Bình Dương, theo số lượng thống kê năm 2003, lượng CTRCN và CTNH phát sinh từ các khu công nghiệp ước tính khoảng 100 tấn/ngày. Trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, khối lượng CTRCN (kể cả chất thải dầu khí) phát sinh là 30-35 tấn/ngày...


Theo Công trình khảo sát chất thải toàn cầu của Tổ chức Hàng hải Quốc tế, cứ tạo ra tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 1 tỉ USD sẽ làm phát sinh khoảng 4.500 tấn chất thải công nghiệp, trong đó 20% là CTNH. Như vậy, nếu lấy tốc độ tăng trưởng GDP cả nước bình quân hàng năm là 10% ta có kết quả dự báo tương đối tổng tải lượng CTRCN và CTNH tại một số tỉnh trong vùng đến năm 2010 và 2020 như bảng 1.

Các giải pháp công nghệ đề xuất

Hiện nay có nhiều loại công nghệ khác nhau để xử lý CTRCN và CTNH. Mặc dù vậy, mỗi công nghệ chỉ có khả năng ứng dụng tốt trong một phạm vi nhất định. Ở nhiều nước tiên tiến, người ta thường xử lý tập trung 2 loại chất thải này bằng cách kết hợp nhiều quy trình công nghệ khác nhau. Theo Chiến lược quản lý chất thải quốc gia, CTRCN và CTNH, không chỉ ở VKTTĐPN mà ở toàn miền Nam, phải được xử lý tập trung theo quy trình khép kín. Tuy nhiên, do điều kiện chưa cho phép nên hiện tại mỗi địa phương đều phải tự vận động theo cách riêng của mình, dẫn đến việc mất cân đối, gây ảnh hưởng tương hỗ xấu. Vì vậy, một số nhà khoa học đã có những hướng nghiên cứu khác nhằm tìm ra những mô hình quản lý phù hợp hơn, cụ thể là phân nhỏ hợp lý theo từng cụm một hoặc hai tỉnh để đáp ứng nhu cầu quản lý thực tế. Tuy nhiên, dù quản lý theo cách nào đi nữa thì tại các cụm xử lý CTRCN và CTNH vẫn phải áp dụng các biện pháp công nghệ dưới đây:

Phân loại và xử lý cơ học

Đây là khâu ban đầu không thể thiếu trong quy trình xử lý chất thải. Biện pháp này sẽ làm tăng hiệu quả tái chế và xử lý ở các bước tiếp theo. Các công nghệ dùng để phân loại, xử lý cơ học chất thải bao gồm: cắt, nghiền, sàng, tuyển từ, tuyển khí nén… Ví dụ, các loại chất thải có kích thước lớn và thành phần khác nhau phải được phân loại ngay khi tiếp nhận. Các chất thải rắn chứa các chất độc hại (như muối cyanua rắn) cần phải được đập thành những hạt nhỏ trước khi được hòa tan để xử lý hóa học. Các chất thải hữu cơ dạng rắn có kích thước lớn phải được băm và nghiền nhỏ đến kích thước nhất định, rồi trộn với các chất thải hữu cơ khác để đốt…

Công nghệ thiêu đốt

Đốt là quá trình oxy hóa chất thải ở nhiệt độ cao. Công nghệ này rất phù hợp để xử lý CTRCN và CTNH hữu cơ như cao su, nhựa, giấy, da, cặn dầu, dung môi, thuốc bảo vệ thực vật và đặc biệt là chất thải y tế trong những lò đốt chuyên dụng hoặc công nghiệp như lò nung xi măng. Hiện tại, vùng KTTĐPN đang quan tâm đến việc liên kết với các nhà máy xi măng để xử lý một số loại CTNH (đã có dự án đốt thử nghiệm tại Nhà máy ximăng Holcim ở Kiên Giang). Tuy nhiên, để triển khai được theo hướng này, cần có thời gian chuẩn bị nhiều mặt, cả về pháp lý, nguồn lực thu gom vận chuyển, sự đồng thuận của cộng đồng và doanh nghiệp. Theo các tài liệu kỹ thuật thì khi thiết kế lò đốt chất thải phải đảm bảo 4 yêu cầu cơ bản: cung cấp đủ oxy cho quá trình nhiệt phân bằng cách đưa vào buồng đốt một lượng không khí dư; khí dư sinh ra trong quá trình cháy phải được duy trì lâu trong lò đốt đủ để đốt cháy hoàn toàn (thông thường ít nhất là 4 giây); nhiệt độ phải đủ cao (thông thường cao hơn 1.0000C); yêu cầu trộn lẫn tốt các khí cháy - xoáy.

Công nghệ thiêu đốt có nhiều ưu điểm như khả năng tận dụng nhiệt, xử lý triệt để khối lượng, sạch sẽ, không tốn đất để chôn lấp nhưng cũng có một số hạn chế như chi phí đầu tư, vận hành, xử lý khí thải lớn, dễ tạo ra các sản phẩm phụ nguy hiểm.

Công nghệ xử lý hóa - lý

Công nghệ xử lý hóa - lý là sử dụng các quá trình biến đổi vật lý, hóa học để làm thay đổi tính chất của chất thải nhằm mục đích chính là giảm thiểu khả năng nguy hại của chất thải đối với môi trường. Công nghệ này rất phổ biến để thu hồi, tái chế chất thải, đặc biệt là một số loại CTNH như dầu, mỡ, kim loại nặng, dung môi.

Biện pháp tái chế, thu hồi chất thải bằng công nghệ hóa - lý chỉ thực sự mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường đối với những nhà máy xử lý chất thải quy mô lớn, đầu tư công nghệ hiện đại để có thể thu hồi sản phẩm từ chất thải. Một số biện pháp hóa - lý thông dụng trong xử lý chất thải như sau:

Trích ly: là quá trình tách các cấu tử ra khỏi hỗn hợp nhờ một dung môi có khả năng hòa tan chọn lọc một số chất trong hỗn hợp đó. Trong xử lý chất thải, quá trình trích ly thường được ứng dụng để tách hoặc thu hồi các chất hữu cơ có lẫn trong chất thải dầu mỡ, dung môi, hóa chất bảo vệ thực vật… Sau khi trích ly, người ta thường thu hồi lại dung môi bằng cách chưng cất hỗn hợp. Sản phẩm trích ly còn lại có thể được tái sử dụng hoặc xử lý bằng cách khác.

Chưng cất: là quá trình tách hỗn hợp chất lỏng bay hơi thành những cấu tử riêng biệt dựa vào độ bay hơi khác nhau, ở những nhiệt độ sôi khác nhau của mỗi cấu tử chứa trong hỗn hợp đó, bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần bay hơi và ngưng tụ. Quá trình chưng cất dựa trên cơ sở là các cấu tử của hỗn hợp lỏng có áp suất hơi khác nhau, khi đun nóng, những chất có nhiệt độ sôi thấp hơn sẽ bay hơi trước và được tách riêng ra khỏi hỗn hợp.

Trong thực tế xử lý chất thải, quá trình chưng cất thường gắn với trích ly để tăng cường khả năng tách sản phẩm.

Kết tủa, trung hòa: dựa trên phản ứng tạo sản phẩm kết tủa lắng giữa chất bẩn và hóa chất để tách kết tủa ra khỏi dung dịch. Quá trình này thường được ứng dụng để tách các kim loại nặng trong chất thải lỏng ở dạng hydroxyt kết tủa hoặc muối không tan. Ví dụ như việc tách Cr, Ni trong nước thải mạ điện nhờ phản ứng giữa Ca(OH)2 với các Cr3+ (khử từ Cr6+) và Ni2+ tạo ra kết tủa Cr(OH)3, Ni(OH)2 lắng xuống, lọc tách ra đem xử lý tiếp để trở thành Cr2O3 và NiSO4 được sử dụng làm bột màu, mạ Ni.

Oxy hóa - khử: là quá trình sử dụng các tác nhân oxy hóa - khử để tiến hành phản ứng oxy hóa - khử, chuyển chất thải độc hại thành không độc hại hoặc ít độc hại hơn. Các chất oxy hóa - khử thường được sử dụng như Na2S2O4, NaHSO3, H2, KMnO4, K2Cr2O7, H2O2, O3, Cl2.

Trong thực tế xử lý chất thải, quá trình oxy hóa với các tác nhân khử như Na2S2O4, NaHSO3, H2 thường được ứng dụng để xử lý các kim loại đa hóa trị như Cr, Mn, biến chúng từ mức oxy hóa cao, dễ hòa tan như Cr6+, Mn7+ trở về dạng oxyt bền vững, không hòa tan Cr3+, Mn4+. Ngược lại quá trình khử, với các tác nhân oxy hóa như KMnO4, K2Cr2O7, H2O2, O3, Cl2 cho phép phân hủy các chất hữu cơ nguy hại như phenol, mercaptan, thuốc bảo vệ thực vật và cả cyanua thành những sản phẩm ít độc hại hơn.

Công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh

Chôn lấp hợp vệ sinh là biện pháp tiêu hủy chất thải được áp dụng rất rộng rãi trên thế giới. Trước đây, nhiều quốc gia tiên tiến như Anh, Nhật cũng dùng biện pháp chôn lấp, kể cả một số loại chất thải hạt nhân, lây nhiễm hoặc độc hại, nhưng trước khi chôn lấp phải được cách ly an toàn bằng các vật liệu phù hợp như chì, bêtông nhiều lớp để chống phóng xạ. Theo công nghệ này, CTRCN và CTNH dạng rắn hoặc sau khi đã cố định ở dạng viên được đưa vào các hố chôn lấp có ít nhất 2 lớp lót chống thấm, có hệ thống thu gom nước rò rỉ để xử lý, có hệ thống thoát khí, có giếng khoan để giám sát khả năng ảnh hưởng đến nước ngầm.

Địa điểm xây dựng bãi chôn lấp CTRCN và CTNH phải cách xa khu dân cư lớn hơn 5 km; giao thông thuận lợi, nền đất phải ổn định, chống thấm tốt, mực nước ngầm thấp… Việc xây dựng hố chôn lấp CTRCN và CTNH phải theo đúng các quy chuẩn thiết kế về kích thước, độ dốc, các lớp chống thấm đáy và vách, xử lý nước rò rỉ, khí gas…


Để tăng cường hiệu quả sử dụng hố chôn, việc chôn lấp CTRCN và CTNH thường kết hợp với cố định và hóa rắn chất thải trước khi chôn thông qua việc đưa thêm những chất liệu khác vào chất thải để làm thay đổi tính chất vật lý, tăng sức bền, giảm độ hòa tan, giảm độ lan truyền chất thải độc hại ra môi trường. Biện pháp này cũng thường được áp dụng trong trường hợp không thể sử dụng các biện pháp cải tạo sinh học hay đốt chất thải. Vật liệu để đóng rắn phổ biến là ximăng, hoặc có thể trộn thêm vào đó một vài chất vô cơ khác để tăng độ ổn định và kết cấu. Tỷ lệ ximăng phối trộn nhiều hay ít tùy thuộc vào từng loại CTNH cụ thể. Thông thường sau khi đóng rắn hoàn toàn, người ta sẽ tiến hành kiểm tra khả năng hòa tan của các thành phần độc hại trong mẫu bằng cách phân tích nước dịch lọc để xác định một số chỉ tiêu đặc trưng rồi so sánh với tiêu chuẩn, nếu đạt tiêu chuẩn sẽ được phép chôn ở bãi rác công nghiệp, nếu không đạt thì phải tăng thêm tỷ lệ ximăng trong đó cho đến khi đạt tiêu chuẩn.

Ở Việt Nam hiện nay chưa có tiêu chuẩn này. Chúng ta có thể tham khảo tiêu chuẩn chôn lấp của Nhật Bản. Theo tiêu chuẩn này, chất thải rắn chỉ cần ngâm và khuấy trộn liên tục 6 giờ trong nước cất, sau đó lọc và phân tích nước dịch lọc để xác định một số chỉ tiêu đặc trưng cho loại chất thải đó, rồi so sánh với bảng tiêu chuẩn được đưa ra trong bảng 2.

Trên đây là các giải pháp công nghệ có tính chọn lọc nhằm mục đích hỗ trợ các hoạt động xử lý chất thải ngay tại nguồn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, hoặc cũng có thể áp dụng ở những quy mô lớn hơn trong vùng khi điều kiện cho phép.

KIỂM TOÁN MÔI TRƯỜNG


 Môi trường và sự phát triển bền vững hiện nay không chỉ là vấn đề riêng của mỗi quốc gia mà nó đã trở thành vấn đề toàn cấu đang được thế giới đặc biệt quan tâm. Không phải ngẫu nhiên mà các hội nghị quốc tế về môi trường tổ chức tại BALI lại thu hút sự chú ý theo dõi của toàn cầu bởi vì nó không chỉ ảnh huởng đến sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia mà nó còn ảnh hưởng đến sự tồn tại của chúng ta hiện nay và các thế hệ tương lai. Môi trường và sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn có mối quan hệ nguợc chiều. Nếu đặt mục tiêu phát triển kinh tế cao khả năng phải sự dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên, khả năng sẩy ra ô nhiễm từ các chất thải công nghiệp là rất lớn, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển bền vững của môi trường và ngược lại. Do đó các quốc gia cần phải giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường.

Liên hệ: Anh Trọng: 04. 62968157-09 8888 2949

Với quan niệm rằng tất cả những gì có thể ảnh hưởng sức khoẻ đến con người và làm huỷ hoại đến môi trường đều được coi là ô nhiễm môi trường do đó ô nhiễm môi trường có thể chia thành các loại sau:

- Ô nhiễm nguồn nước

- Ô nhiễn không khí

- Ô nhiễm về tiếng ồn

- Ô nhiễm từ các chất thải độc hại

- Ô nhiễm từ sự ảnh hưởng của quá trình phát triển xã hội:

Ví dụ quá trình đô thị hoá phát triển rất nhiều người không có công ăn việc làm do đó họ vào rừng chặt phá để duy trì cuộc sống. Lượng cây xanh ít đi cũng đồng nghĩa chúng ta ít o2 dẫn tới môi trường bị ô nhiễm, hạn hán, lụt lội thường xuyên sẩy ra…Có thể nhận thấy rằng ô nhiễm môi trường là nguyên nhân của hiện tượng nóng lên của khí hậu toàn cầu mà các nước trên thế giới đang phải đối mặt. Theo thống kê của các nhà khoa học từ năm 1985 – 1940 trái đât chúng ta đã tăng lên 0,5 oC và không có biện pháp kịp thờí khắc phục hiên tượng này (hiệu ứng nhà kính) thì đến năm 2050 trái đất chúng ta sẽ nóng lên từ 1,5 – 4,5oC khi đó 1 phần lớn các khu vực thấp, đầm lầy, đảo nhỏ có thể bị chìm trong nước biển và diện tích đất liền ngày càng bị thu hẹp. Có 05 nguy cơ mà các nước sẽ phải đối mặt với sự biến đổi của khí hậu đó là:

o Năng xuất đất nông nghiệp bị giảm.

o Gia tăng tình trạng thiếu nước

o Thời tiết ngày một khắc nghiệt (hạn hán, lũ lụt thường xuyên sẩy ra)

o Các hệ sinh thái mất thăng bằng

o Gia tăng bệnh tật Như vậy có thể thấy môi trường có vị trí vô cùng to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của loài người, do đó vấn đề làm sao để duy trì, bảo vệ phát triển môi trường một cách bền vững? Cơ quan, tổ chức, cá nhân nào thưc hiện việc đó? Trên thế giới một số nước đã có thể giải đáp các câu hỏi trên đó chính là cơ quan kiểm toán tối cao có tiến hành hoạt động kiểm toán môi trường.Khái niệm kiểm toán môi trường bắt đầu xuất hiện vào những năm đầu thập kỷ 80 sau hàng loại các thảm hoạ môi trường sẩy ra tại Anh và Mỹ: “Kiểm toán môi trường là công cụ quản lý bao gồm một quá trình đánh giá có tính hệ thống, định kỳ và khách quan được văn bản hoá về việc làm thế nào để thực hiện tổ chức môi trường, quản lý môi trường và trang thiết bị môi trường đó hoạt động tốt”.

- Môi trường hiện nay là một vấn đền màn tính toàn cầu nó ảnh hưởng tới tất cả các nước trên thế giới.

- Có rất nhiều các đối tượng khác nhau tham gia vào hoạt động môi trường.

- Kiểm toán môi trường đòi hỏi kiến thức rất rộng về các môn khoa học khác nhau: Địa lý, hoá học, kiểm toán…Kiểm toán môi trường phải trả lời được câu hỏi do các nhà quản lý đưa ra.- chúng ta đang làm gì? có phải tuân thủ các luật, quy định về môi trường của chính phủ hay không?

- Chúng ta có thể làm tốt hơn không? Ở những khu vực không được quy định, các hoạt động cần được tăng cường để giảm thiểu tác động môi trường hay không?

- Chúng tôi có thể sử dụng các nguyên vật liệu đầu vào khác với chi phí rẻ hơn để thay thế không? Quy trình sản xuất đã là tối ưu chưa?

- Chúng tôi có thể giảm thiểu các sản phẩm hỏng trong quá trình sản xuất không? Nếu có bằng cách nào? Sản phẩm của chúng tôi có thân thiện với môi trường không?

- Chúng tôi có thể sử dụng các nguyên vật liệu đầu vào khác với chi phí sử lý môi trường nhưng vẫn tuân thủ về các quy định môi trường của pháp luật hay không? Nếu có bằng cách nào?

- Chính bởi tính phức tạp của hoạt động kiểm toán môi trường do đó khi tiến hành kiểm toán, kiểm toán viên phải tiến hành cả 03 loại hình kiểm toán đó là: Kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động.

- Kiểm toán tài chính: Kiểm toán viên phải đi sâu vào xem xét việc chi tiêu quản lý quỹ cho hoạt động bảo vệ môi trường của chính phủ và các tổ chức phi chính phủ có đúng mục đích quy định hay không? Chi phí Doanh nghiệp bỏ ra cho việc xử lý môi trường , nghiên cứu, cải tiến, thay đổi các nguyên vật liệu đầu vào, chi phí cho việc nộp phạt vi phạm vi phạm môi trường…được thể hiện đúng và đủ trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp hay chưa? Việc chi tiêu các khoản chi phí đó có đúng theo quy định hay không?

- Kiểm toán tuân thủ: Kiểm toán viên đi sâu vào xem xét việc tuân thủ các cam kết quốc tế về môi trường của quốc gia như các Nghị định thư; Công ước quốc tế; Chủ chương của Liên Hợp quốc; Chương trình nghị sự ; Các hưỡng dẫn… đồng thời các kiểm toán viên cũng cần đi sâu xem xét việc tuân thủ các chính sách pháp luật của Nhà nước về môi trường của các Doanh nghiệp, đôi khi cũng phải xem xét các quy định riêng của từng địa phương về môi trường (nếu có)…

- Kiểm toán hoạt động: Nói đến kiểm toán hoạt động tất cả mọi người đều nghĩ đến việc đánh giá tính kinh tế, hiệu quả và hiệu lực (3Es), tuy nhiên việc hoạt động kiểm toán môi trường còn được mọi người biết đến với 6Es cụ thể:

+ Tính kinh tế (Economic): Là việc tối thiểu hoá các nguồn lực đầu vào (con người, nguyên vật liệu, các nguồn lực tài chính) cho một hoạt động sản xuất nhưng vẫn đảm bảo chất lượng đầu ra của sản phẩm là tương đương. Do đó, khi tiến hành kiểm toán các kiểm toán viên phải trả lời được các câu hỏi sau:

· Doanh nghiệp đã sử dụng các nguyên vật liệu đầu vào một cách thực sự chưa? có giải pháp nào tối ưu hơn không?

· Vấn đề nguồn lực con người đã sử dụng một cách kinh tế chưa? Doanh nghiệp có thể sử dụng ít công nhân hơn để sản xuất sản phẩm đó mà vẫn giữ nguyên chất lượng và tiến độ thời gian không?

· Các nguồn lực tài chính (chi phí điện, nước, điện thoại, văn phòng phẩm…) đã sử dụng tiết kiệm hơn không? Có phương án nào tối ưu hơn không?

· Doang nghiệp đã sử dụng đồng tiền một cách ít nhất hay chưa?

+ Đối với tính hiệu quả (Efficiency): Là mối quan hệ giữa các yếu tố đầu ra (có thể là hàng hoá, dịch vụ…) với cát nguồn lực đầu vào để sản xuất ra chúng, tính hiệu quả là việc tối đa hoá các sản phẩm đầu ra cùng với một nguồn lực đầu vào. Hay nói cách khác kiểm toán viên phải trả lời được các câu hỏi doanh nghiệp đã sử dụng đồng tiền một cách tốt nhất hay chưa? Khi tiến hành đánh giá các kiểm toán viên có thể so sánh các hoạt động tương đương trong cùng một thời kỳ với cùng một tiêu chuẩn để tìm ra phương án hiệu quả. Tuy nhiên đối với lĩnh vực phức tạp như môi trường đôi khi có những vấn đề chưa được chuẩn mực nhất định thì kiểm toán viên cần phải dựa vào những thông tin tối ưu nhất để phân tích đánh giá đồng thời cũng cần có sự trưng cầu ý kiến đánh giá của các chuyên gia môi trường để có thể đưa ra ý kiến phù hợp nhất.

+ Đối với tính hiệu lực (Effectivenness): Là mối tương quan giữa mục tiêu đề ra trong kế hoạch với kết quả đạt được. Kiểm toán viên phải đánh giá được mức độ hoàn thành so với kế hoạch đặt ra có được phù hợp và thống nhất hay không? Tóm lại, kiểm toán viên cần trả lời câu hỏi doanh nghiệp đã sử dụng đồng tiền một cách thực sự khôn ngoan hay chưa?

+ Tính đạo đức (Ethic): Ở đây đề cập đến đạo đức của ngứng người đứng đầu trong cơ quan, tổ chức tham gia hoạt động môi trường: Cụ thể, khi tiến hành kiểm toán, kiểm toán viên càn trả lời được các câu hỏi sau:

· Có sự thất thoát, lãng phí, tham nhũng trong quá trình chi tiêu hay từ các quỹ môi trường hay không?

· Có sự sai phạm về đạo đức của những người đứng đầu tổ chức tham gia vào hoạt động môi trường hay không? Ví dụ: Khi tiến hành một dự án xây dựng mà một làng mất đi diện tích sản xuất (làng này chỉ có sản xuất nông nghiệp không có nghề nào khác) thì ngoài việc đền bù sản xuất đã lấy đi từ họ thì vấn đề công ăn việc làm của họ thì sau này sẽ được giả quyết ra sao? Nếu không giải quyết vấn đề đạo đức của người đứng đầu thực hiện dự án sẽ được xem xét thế nào? Hay một nhà máy ximăng được xây dựng gần khu dân cư sau vài năm đi vào hoạt động số người dân ở khu vực xung quang bị ung thư là rất cao do môi trường bị ô nhiễm trầm trọng thì vấn đề điều trị bệnh cho những người có được nhà máy giải quyết hay không? Chính quyền địa phương có những hành động gì để giảm thiểu ô nhiễm từ nhà máy kia hay không? Nếu không tính “đạo đức” của Ban lãnh đạo nhà máy, chính quyền địa phương sẽ được xem xét như thế nào?

+ Tính công bằng (Equity): Kiểm toán viên cần trả lời được câu hỏi sau:

· Mục tiêu phát triển kinh tế và việc bảo vệ sự phát triển bền vững của môi trường đãn được xem xét đến hay chưa?

· Các quỹ, nguồn lực tài chính được phân bổ cho các địa phương được phân bổ một cách công bằng (đa thực sự phù hợp) hay chưa? Có gì khuất tất trong việc phân bổ các quỹ hay không? Vi dụ: Các quỹ bảo vệ môi trường phân bổ về cho các địa phương thì tiêu chí để phân bổ là mức độ ô nhiễn và hậu quả trong việc sử dụng của từng địa phương; nếu dựa trên tiêu chí là diện tích địa phương hay sử dụng phương pháp bình quân thì tính “công bằng” cần được kiểm toán viên đưa ra trong báo cáo kiểm toán

+ Tính môi trường (Emvironment): Kiểm toán viên phải trả lời các câu hỏi sau:

· Việc thực hiện các giải pháp đề ra mang lại một môi trường sống như thế nào? Có đạt được mục tiêu đề ra hay không?

· Môi trường hiện tại đã được cải thiện tốt hơn trước chưa? Các vấn đề còn tồn tại của môi trường hiện nay?

· Liệu còn giải pháp nào tối ưư và đồng bộ hơn để mang lại một môi trường tốt đẹp hơn không?Khi tiến hành kiểm toán, kiểm toán viên có thể kiểm toán theo các nhân tố cấu thành nên ô nhiễm môi trường hoặc có thể kiểm toán theo các chuyên đề như kiểm toán năng lượng; kiểm toán việc các chất thải bệnh viện; kiểm toán các chương trình môi trường của quốc gia….Theo bản báo cáo về phát triển con người năm 2007 – 2008 của UNDP thì trong số các nước đang phát triển thì Việt nam là nước đang bị đe doạ nhiều nhất bởi hiện tượng khí hậu toàn cầu. Nếu nhiệt độ trái đất tăng lên 2oC thì khoảng 20 triệu người Việt nam sẽ mất nhà và 45% diện tích đất nông nghiệp ở Vùng Đông bằng Sông Cửu Long sẽ bị chìm trong nước biển. Do đó, vấn đề phát triển bền vững và bảo vệ môi trường cũng được coi là 1 trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Chính phủ Việt nam hiện nay có rất nhiều tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động bảo vệ môi trường; các tổ chức bảo vệ môi trường, thanh tra môi trường, công an môi trường … tuy nhiên hoạt động của tổ chức này mới chỉ dừng lại ở hình thức xử lý sự vụ (sự việc đã sẩy ra mới xử lý) chưa có các kiến nghị cụ thể về công tác phòng chống ô nhiễm cũng như đánh giá tính kinh tế, hiệu quả, hiệu lực trong việc sử dụng các nguồn kinh phí môi trường của Chính phủ cũng như doanh nghiệp.Vấn đề trên sẽ được giải quyết khi Kiểm toán Nhà Nước Việt nam có các kiểm toán viên môi trường được đào tạo một cách bài bản và chuyên nghiệp, tuy nhiên đây cũng có thể coi là cách thức không nhỏ đối với cơ quan kiểm toán Nhà nước Việt Nam bởi các lý do sau:- Chúng ta chưa có văn bản pháp lý nào quy định Kiểm toán Nhà nước Việt Nam có chức năng kiểm toán môi trường.

- Đứng trên phương diện khoa học kiểm toán thì kiểm toán môi trường là sự kết hợp giữa kiểm toán tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động; kiểm toán môi trường là bước phát triển cao hơn của kiểm toán hoạt động. Từ khi thành lập ngành đến nay chung ta mới chỉ tiến hành một cuộc kiểm toán hoạt động duy nhất đó là cuộc kiểm toán quản lý và sử dụng phí đường bộ; đồng thời đến nay chúng ta vẫn chưa ban hành quy trình hướng dẫn đối với kiểm toán hoạt động.

- Chúng ta chưa xây dựng được một ngân hàng dữ liệu về môi trường của quốc gia(thông tin về số tà nguyên mà quốc gia đã có; số tài nguyên đã sử dụng từng năm; các công nghệ xử lý nước thải danh sách các công ty vi phạm về môi trường…) đây là kênh thông tin hết sức quan trọng có thể hỗ trợ cho các kiểm toán viên rất nhiều trong hoạt động kiểm toán, ví dụ như các kiểm toán viên có thể đưa ra những khuyến cáo của mình trong việc sử dụng khai thác các tài nguyên, hướng dẫn giai quyết, xử lý, sử dụng trong các năm tiếp theo.

- Công tác đào tạo cán bộ các kiếm thức về kiểm toán môi trường của Kiển toán Nhà Nước Việt Nam còn rất hạn chế do đó chưa xây dựng được một đội ngũ kiểm toán viên môi trường chuyên nghiệp.- Chúng ta chưa xây dựng được một quy trình, phương pháp riêng đối với hoạt động kiểm toán môi trường.Với ý nghĩa và tầm quan trọng vô cùng to lớn của môi trường không chỉ cuộc sống của chúng ta mà cả nền kinh tế Việt Nam thì có thể nói hoạt động kiểm toán môi trường tất yếu có thể hoạt động kiểm toán của cơ quan Kiểm toán Nhà Nước Việt Nam. Với hy vọng trong tương lai gần, khi mà chúng ta có những quy định pháp lý cụ thể cho hoạt động kiểm toán môi trường, các kiểm toán viên mà chúng ta được đào tạo đầy đủ và chuyên nghiệp…thì cơ quan kiểm toán Nhà nước Việt Nam sẽ là một trong những nhân tố tích cực không những góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước mà còn góp phần tích cực trong công tác bảo vệ môi trường./.


Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2009

Không khí bẩn mất 3 ngày gây đột biến gene

Ảnh:
Ảnh: ifce.org.

Hít thở không khí ô nhiễm trong thời gian ngắn có thể khiến vài gene biến đổi. Tác động này làm tăng nguy cơ mắc ung thư và nhiều bệnh khác theo các nhà khoa học Italy mới công bố.

Các chuyên gia về công nghệ sinh học ứng dụng của Đại học Milan (Italy) tiến hành thu thập mẫu máu của 63 công nhân làm việc trong môi trường đầy khói bụi của một nhà máy luyện thép gần thành phố Milan. Việc lấy mẫu được thực hiện trước khi công nhân bước vào nhà máy và được lặp lại trong nhiều ngày sau đó.

Sau khi phân tích ADN trong mẫu máu, các nhà khoa học nhận thấy 4 gene của những người tham gia cuộc nghiên cứu đã thay đổi. Điều đáng chú ý là vài công nhân mới vào nhà máy được 3 ngày, song cũng không tránh khỏi tác động tương tự như những người đã làm việc lâu năm. Phát hiện cho thấy các nhân tố có hại trong môi trường cần rất ít thời gian để gây nên hiện tượng "lập trình lại" ở gene - một trong những nguyên nhân khiến nguy cơ mắc bệnh gia tăng.

Tiến sĩ Andrea Baccarelli của Đại học Milan, cho rằng tác động tương tự cũng xảy ra ở những người sống tại các thành phố có bầu không khí ô nhiễm. Song do nồng độ hạt siêu nhỏ trong không khí tại đô thị thấp hơn hàng chục lần so với nhà máy luyện thép nên sự biến đổi gene diễn ra trong nhiều tháng hoặc năm.

Hạt siêu nhỏ trong khí quyển gồm phân tử kim loại, bụi và muội than. Chúng có thể chui sâu vào phổi. Sự phơi nhiễm với hạt siêu nhỏ có thể gây nên các bệnh ở đường hô hấp, các bệnh liên quan tới tim và ung thư phổi. Cho tới nay các nhà khoa học mới chỉ biết rất ít về cơ chế gây bệnh của hạt siêu nhỏ.

Theo Baccarelli, các gene trong cơ thể người được sắp xếp thành các nhóm khác nhau trong một quá trình có tên “methylation”. Khi hạt vi mô lọt vào cơ thể, chúng làm kìm hãm quá trình sắp xếp gene khiến số lượng nhóm gene giảm. Do gene sản xuất protein nên lượng protein (rất quan trọng đối với ADN và cơ thể) cũng giảm theo. Các nhà khoa học phát hiện tình trạng suy giảm nhóm gene ở các bệnh nhân mắc ung thư phổi.


Thứ Năm, 11 tháng 6, 2009

ĐTM – Không thể nới lỏng luật vội vã!

ThienNhien.Net – Nới lỏng quy định về thời gian lập và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là một trong số rất nhiều nội dung có trong Tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong kỳ họp thứ V, Quốc hội khóa XII. Đề nghị này đã được Uỷ ban Kinh tế của Quốc Hội tán thành trong báo cáo thẩm tra số 790/BC-UBKT12. Tuy nhiên, ngay từ ý tưởng, nó đã va phải nhiều ý kiến quan ngại và phản đối.


ĐTM ở Việt Nam - Một nửa cốc nước

Khó cho nhà quản lý

Trong số 26 ý kiến phát biểu tại phiên họp QH toàn thể sáng hôm qua, 08/06/209, có 7 đại biểu góp ý thẳng vào vấn đề sửa đổi Luật BVMT. Các ý kiến đều cho rằng việc thay đổi như đề nghị trong bản dự thảo là "cần phải cân nhắc, xem xét”, “không phù hợp”, "chưa cần thiết, “không nên“.

Các điều khoản luật và quy định hiện hành về ĐTM đã khá đầy đủ và chặt chẽ, nhưng khi áp dụng vào thực tế vẫn còn nhiều bất cập, thiếu hiệu lực, thậm chí không được tuân thủ đầy đủ hoặc bỏ qua bởi chính các nhà đầu tư, chủ dự án, hội đồng thẩm định hoặc cơ quan phê duyệt báo cáo ĐTM. Nếu các điều khoản của Luật BVMT 2005 bị sửa đổi như dự thảo, thì công tác quản lý, kiểm tra và giám sát yêu cầu BVMT sẽ càng trở nên khó khăn hơn, làm mất đi thuộc tính dự báo, ngăn ngừa của quá trình thực hiện ĐTM.

Đại biểu tỉnh Hưng Yên, ông Lê Văn Hưng, nhận xét: "Pháp luật của chúng ta đã có tương đối đầy đủ những đổi mới trong chính sách pháp luật để xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường nhưng tình trạng này vẫn ngày một nghiêm trọng. Chúng ta cũng phải sửa Bộ luật hình sự để xử lý tình trạng này, việc sửa đổi Điều 19, Điều 22 Luật BVMT rõ ràng theo tôi không phù hợp với yêu cầu thực tế và cũng không đảm bảo được tính thống nhất trong chính sách pháp luật của Nhà nước đối với vấn đề môi trường.”

Ông Nghiêm Vũ Khải, đại biểu tỉnh Điện Biên đã khẳng định "quy định của luật hiện hành là rất hợp lý" và "việc lập báo cáo ĐTM là cần thiết để tính tất cả những trách nhiệm môi trường và những rủi ro trong quá trình vận hành có thể xảy ra", và do vậy việc sửa đổi “cần hết sức cân nhắc”.

Ông Lê Quốc Dung, đại biểu tỉnh Thái Bình cho rằng việc sửa đổi như đề xuất là rất sơ hở. Một trong những điểm dễ bị lợi dụng xuất phát từ chữ “tùy“, đồng thời sẽ rất khó giải quyết trong trường hợp dự án chuẩn bị khởi công, hoặc đã khởi công nhưng báo cáo ĐTM không được duyệt. Còn đại biểu tỉnh Kon Tum cho rằng các quy định theo dự thảo là “trái với bản chất của việc lập báo cáo ĐTM”.

Hiện nay, nhiều chủ dự án vốn đã coi việc thực hiện ĐTM là một rào cản hành chính, nếu tạo cho họ cơ hội lần khất việc lập và xét duyệt ĐTM đến sát với thời điểm khởi công, họ càng chịu sức ép để có được ĐTM phê duyệt bằng bất cứ giá nào.


Điều 19 (Khoản 2)

Điều 22 (Khoản 4)

Tờ trình Dự án Luật sửa đổiTùy theo quy mô và tính chất của dự án, dự án đầu tư phải lập Báo cáo ĐTM đồng thời với Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc trước khi khởi công xây dựng theo quy định của Chính phủ.”
Báo cáo ĐTM trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại khoản 7 Điều 21 của Luật này trước khi khởi công xây dựng dự án.
Luật BVMT hiện hành(2005)Báo cáo ĐTM phải được lập đồng thời với báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án.
Các dự án quy định tại Điều 18 của Luật này chỉ được phê duyệt, cấp phép đầu tư, xây dựng, khai thác sau khi báo cáo ĐTM đã được phê duyệt.

Tăng rủi ro đầu tư, chưa xuất phát từ lòng dân

Một số đại biểu cho rằng nội dung bản dự thảo sửa đổi mới chỉ phản ánh bức xúc của các nhà đầu tư mà chưa bám sát vào tình hình thực tiễn cuộc sống của nhân dân nơi có dự án cũng như yêu cầu về an ninh môi trường quốc gia. Tuy nhiên, ngay cả trên quan điểm lợi ích của doanh nghiệp, một số ý kiến phân tích đã cho thấy chưa chắc nhà đầu tư đã được hưởng lợi hoàn toàn. Rất có thể họ sẽ phải gánh rủi ro cao hơn.

Bà Lý Kim Khánh, đại biểu tỉnh Cà Mau, lý giải: "Việc đánh giá tác động môi trường là điều kiện "cần" để phê duyệt dự án vì nó gắn liền với sự lựa chọn địa điểm đầu tư. Vì vậy nếu cho phép đánh giá tác động môi trường sau, mà các thủ tục khác đã xong nhưng đến khâu đánh giá tác động môi trường lại không đạt yêu cầu thì sẽ mất rất nhiều thời gian và công sức của chủ đầu tư."

Ông Khải nhận xét rằng quy định như vậy có vẻ như tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, nhưng thực ra tạo điều kiện thuận lợi không nhiều, mà ngược lại gây ra những nguy cơ và rủi ro nhiều hơn. Trong trường hợp báo cáo đầu tư được phê duyệt trước khi khởi công, nhưng ĐTM chưa thông thì những gì chi phí trước đó của doanh nghiệp không biết ai sẽ bù đắp, vả lại nếu doanh nghiệp dùng mọi cách để phê duyệt cho bằng được báo cáo ĐTM thì sau này trong giai đoạn vận hành chính họ sẽ phải đối mặt với những khó khăn còn lớn hơn nhiều, đối mặt với dư luận và thậm chí có thể bị đình chỉ hoạt động hoặc di dời đi chỗ khác.

Phải tiếp tục củng cố và ưu tiên chế tài ĐTM

"Việt Nam đang chuyển sang một giai đoạn mà ở đó chúng ta cần phải lựa chọn các dự án, chứ không phải thu hút đầu tư bằng mọi giá, trong đó lựa chọn vấn đề môi trường là vấn đề quan trọng trước hết." Ông Lê Quốc Dung, đại biểu tỉnh Thái Bình, khẳng định lại điều mà lâu nay báo chí vẫn cho rằng chưa được coi trọng đúng mức.

Đại biểu tỉnh Điện Biên, ông Nghiêm Vũ Khải, đưa ra gợi ý sử dụng các công cụ kinh tế để kích thích quá trình đầu tư. Bên cạnh các hỗ trợ lãi suất ngân hàng, giảm thuế và chi hàng chục nghìn tỷ cho những gói kích cầu, chính phủ có thể trích một phần của gói kích cầu này hỗ trợ doanh nghiệp một phần hoặc toàn bộ chi phí lập báo cáo đánh giá tác động môi trường. Ông giải thích đây là một mũi tên bắn trúng nhiều đích: Vừa giúp cho doanh nghiệp, lại vừa tăng ngân sách cho môi trường, cải thiện thực tế hiện nay Việt Nam chỉ có 1% ngân sách cho môi trường, còn quá ít so với yêu cầu thực tế.

Những ý kiến đóng góp của các đại biểu sẽ là cơ sở quan trọng để quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản, sẽ diễn ra vào ngày 19/06 tới.

Dưới đây là ý kiến của một số chuyên gia trong lĩnh vực ĐTM từ cuộc phỏng vấn nhanh của ThienNhien.Net:

GS.TS. Lê Thạc Cán, Viện trưởng Viện Môi trường và Phát triển Bền vững:

"Báo cáo ĐTM có mục tiêu đảm bảo tính bền vững về kinh tế- xã hội- môi trường của các dự án phát triển, vì vậy nhất thiết phải được lập và xem xét đồng thời với báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án.

Quan hệ giữa quy mô, tính chất của dự án với mức độ cần thiết về ĐTM đã được xác định một cách cụ thể trong các Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật BVMT. Tôi cho rằng đề nghị sửa đổi trên đây tạo một độ tự do quá lớn cho việc dự án có thực hiện thủ tục ĐTM hay không, trái với Luật BVMT 2005, các văn bản hướng dẫn luật và các quy định về ĐTM đã được xác định.

Khoản 4 của điều 22 của Luật BVMT hiện hành là để đảm bảo việc thực hiện nghiêm túc quy định về phê duyệt báo cáo ĐTM. Kết quả phê duyệt báo cáo này phải được xem xét trong tất cả các khâu của quá trình thực hiện dự án, không thể chỉ nói chung là trước khi khởi công xây dựng dự án. Nếu sửa như đề nghị thì có thể trong các khâu: phê duyệt, cấp phép đầu tư, khai thác sẽ không cần xem xét báo cáo ĐTM. Như vậy là quá lỏng lẻo về quản lý môi trường, tạo điểm yếu về phát triển bền vững.

Nhìn chung, xét về ý nghĩa tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án phát triển được thực hiện một cách bền vững cả về kinh tế, xã hội, môi trường và lâu dài thì các quy định về ĐTM, ĐMC (Đánh giá Môi trường Chiến lược) của Luật BVMT 2005 đã đáp ứng các yêu cầu cần thiết không cần nới rộng hay sửa đổi.”

Ông Phạm Quang Tú, Viện trưởng Viện Tư vấn Phát triển:

“Để bàn về vấn đề này, trước tiên chúng ta cần có cách nhìn về vấn đề điều chỉnh luật và mối quan hệ giữa các luật với nhau. Theo tôi, khi nói đến một vấn đề gì thì phải lấy luật điều chỉnh vấn đề đó làm cơ sở để điều chỉnh các luật khác. Vì thế, đối với vấn đề môi trường trong đầu tư xây dựng cơ bản thì phải lấy luật môi trường làm gốc, làm cơ sở để đưa ra các điều chỉnh – có như thế mới tránh được thực tế mà chúng ta vẫn đang gặp từ trước đến nay đó là “mạnh ai nấy chạy”.

Với quan điểm như vậy, cá nhân tôi không đồng tình với đề nghị chỉnh sửa nội dung Luật BVMT. Cụ thể:

- Đề nghị chỉnh sửa khoản 2 điều 19 như dự thảo là không hợp lý, bởi vì ở bất kỳ quy mô dự án nào thì vấn đề về môi trường cũng cần được quan tâm ngay từ đầu để đảm bảo hướng tới “phát triển bền vững”, hài hòa giữa các yếu tố về kinh tế, xã hội và môi trường mà Việt Nam đang nỗ lực hướng tới.

- Đề nghị chỉnh sửa ở khoản 4 điều 22 sẽ vô tình biến việc triển khai các hoạt động liên quan đến ĐTM của dự án thành “hoàn thành thủ tục” và “cấp giấy thông hành” – điều này sẽ dẫn đến tình trạng đối phó, xây dựng báo cáo và phê duyệt qua loa chỉ làm để cho có mà hiệu quả sẽ rất thấp.

Khi đề xuất các sửa đổi này, người ta có thể lý giải là để “tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp” – nhưng câu hỏi đặt ra ở đây là: Tại sao chúng ta không có tư duy giải quyết vấn đề ngay từ đầu mà vẫn đi theo lối tư duy cũ là “nước đến chân rồi mới nhảy”?

Việt Nam đang hướng tới “phát triển bền vững” và “tăng cường trách nhiệm xã hội và môi trường của doanh nghiệp”. Vậy thì những vấn đề về bảo vệ môi trường, công bằng xã hội phải được đặt ra ngang bằng với vấn đề kinh tế (trong luận chứng dự án khả thi) – và như thế, vấn đề về môi trường, báo cáo ĐTM nhất thiết phải được lập trong giai đoạn đầu tiên – đồng bộ với luận chứng khả thi để xem xét, cân nhắc có đồng ý cho doanh nghiệp đầu tư hay không?

Cũng cần phải nói thêm rằng việc yêu cầu doanh nghiệp lập báo cáo ĐTM ngay từ đầu không chỉ nên được hiểu là “yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp” mà về mặt dài hạn nó giúp cho doanh nghiệp kinh doanh tốt hơn, ít gặp rắc rối, rủi ro và giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp hơn (bài học VEDAN trong bối cảnh hiện tại đang cho thấy vấn đề này khi VEDAN đang phải bỏ ra hàng tỷ, trăm tỷ đồng để khắc phục vấn đề môi trường) – nó cũng góp phần tăng cường “trách nhiệm môi trường, xã hội” cho doanh nghiệp – một yêu cầu thiết yếu trong tư duy kinh doanh ở thời đại mới.

Lâu nay, ĐTM được coi là “món đồ trang sức” và là “giấy thông hành” mà luật pháp yêu cầu doanh nghiệp “mặc vào” khi thực hiện dự án. Trên thực tế tính khoa học và hiệu lực thực thi, giám sát việc thực hiện ĐTM của chúng ta đang rất yếu.

Đó cũng chính là lý do tại sao doanh nghiệp cảm thấy “ĐTM là thủ tục hành chính rườm rà”. Doanh nghiệp phải bỏ tiền ra để thuê tư vấn thực hiện nó – nhưng tính hiệu lực thực thi trên thực tế không có – vì thế doanh nghiệp có cảm giác “có ĐTM cũng thế, không có ĐTM cũng thế”.

Việc nới lỏng các quy định này và không đưa vấn đề đánh giá ĐTM vào như một “điều kiện tiên quyết” ngay từ đầu chắc chắn sẽ làm rộng thêm kẽ hở về BVMT trong lĩnh vực này. Nó sẽ tiếp tục góp phần vào tư duy “làm ĐTM cho có” của doanh nghiệp trước khi bắt đầu khởi công dự án – và “món đồ trang sức ĐTM” vẫn tiếp tục bắt buộc phải đeo vào nhưng ý nghĩa thực tế về BVMT sẽ rất hạn chế.

Thiết nghĩ, trong bối cảnh phát triển hiện nay của Việt Nam – trong lĩnh vực xây dựng cần phải cân nhắc đến việc “chất hơn là lượng” – chúng ta cần phải đảm bảo các công trình được xây dựng lên phải có chất lượng (bao gồm cả vấn đề về BVMT) hơn là cứ xây dựng thật nhiều công trình kém chất lượng, ít quan tâm đến vấn đề về môi trường.

Nếu vậy, thay vì “nới lỏng” các quy định về môi trường, chúng ta cần quan tâm hơn, thắt chặt hơn các vấn đề Luật BVMT để đảm bảo phát triển bền vững. Cần tập trung nhiều hơn về tăng cường chất lượng của các báo cáo ĐTM, ĐMC và hệ thống thực thi, giám sát các vấn đề này về sau. Vì thế, việc yêu cầu có báo cáo ĐTM ngay từ bước lập báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án, cũng như việc yêu cầu dự án chỉ được phê duyệt, cấp giấy phép đầu tư, xây dựng sau khi báo cáo ĐTM đã được phê duyệt là việc cần thiết – cần phải được duy trì và không nên thay thế, nới lỏng
.

Các vấn đề về môi trường, ở bất kỳ lĩnh vực nào, phải lấy Luật BVMT làm cơ sở để điều chỉnh.”

TS. Vũ Quang, Giảng viên Bộ môn Luật Kinh doanh, Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội:

“Tôi thông cảm sâu sắc với Bộ trưởng, người quản lý ngành và với Chính phủ về sức ép phải thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế trước quốc dân đồng bào nhưng nếu quả thật vì chỉ tiêu kinh tế mà vẫn tiếp tục hy sinh các lợi ích môi trường thì chắc không phải là những hành xử khôn ngoan của Chính phủ. Tôi nghĩ Bộ trưởng và Chính phủ muốn đề nghị các nghị sỹ của chúng ta phải quyết định một vấn đề khá khó khăn và nhạy cảm là hài hóa mục tiêu phát triển kinh tế với mục tiêu bảo vệ môi trường vì suy cho cùng ý kiến quyết định là của Quốc hội.

Các nhà đầu tư, đương nhiên, chỉ và bao giờ cũng mong muốn gia nhập thị trường càng nhanh chóng, càng thuận lợi càng tốt. Điều này hoàn toàn có thể hiểu được. Vấn đề phải giải quyết là: Thứ nhất: Về nguyên tắc không thể nới lỏng các quy định về bảo vệ môi trường nói chung và ĐTM nói riêng theo nghĩa dễ dãi hơn, bỏ qua những yêu cầu ngày càng cao về BVMT; Thứ hai: Và vì vậy có thể xem xét lại các quy định, nghiên cứu, đánh giá và hoàn thiện chúng theo yêu cầu thực tiễn mà về cơ bản càng ngắn gọn về mặt thủ tục, càng dễ dàng và càng có lợi về mặt áp dụng thì càng tốt, Thứ ba: Phải tìm được tiếng nói chung giữa các nhà quản lý, các nhà khoa học môi trường, các nhà khoa học pháp lý và các nhà đầu tư. Tôi tin rằng tất cả chúng ta đã nhận thức rất rõ vấn đề BVMT qua những vụ việc gần đây nên cần những thảo luận nghiêm túc, nhiều chiều và phản biện có trách nhiệm mới giải quyết được vấn đề.

Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định cho rằng “ĐTM cũng là một giải pháp giảm rủi ro trong đầu tư”. Như trên tôi đã nói, những quy định về ĐTM phải được hoàn thiện theo hướng mang lại lợi ích cho chủ thể khi họ thực hiện chúng. Về lý thuyết, đương nhiên nếu nhà đầu tư tuân thủ các quy định pháp luật về ĐTM thì sẽ giảm thiểu được nhiều rủi ro phát sinh. Trong đó trước hết là các rủi ro pháp lý. Con người pháp luật là con người tự do mà! Hơn ai hết các nhà đầu tư hiểu rất rõ điều này.

Từ phương diện người nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành kinh doanh và pháp luật môi trường, tôi cho rằng cần bổ sung thêm các quy định mang tính chặt chẽ hơn, nghiêm khắc hơn và phù hợp hơn với các nguyên tắc của kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế của đất nước. Đặc biệt là quá trình áp dụng chúng trong thực tiễn đời sống trong đó có việc giám sát hậu thẩm định Báo cáo ĐTM của các dự án. Vì thời gian qua việc này chưa được quy định rõ ràng và chưa được thực hiện tốt, có tình trạng “đánh trống bỏ dùi”.

Một điều căn bản nữa là, sau hai thập kỷ đổi mới kinh tế, chúng ta đã bước đầu thu được một số thành tựu nhất định, đã có “bát ăn bát để”, bởi vậy việc thông minh nên làm là đầu tư và phát triển có cân nhắc, có tính toán, tránh tình trạng phát triển “bản năng” và tư duy “nhiệm kỳ!”

TS. Đào Trọng Hưng, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật:

“Tôi không cho rằng đây là nới lỏng qui định về lập và phê duyệt ĐTM. Tôi đồng ý với đề xuất sửa đổi Khoản 4, điều 22 của Luật BVMT. Vấn đề nằm ở chỗ ĐTM được lập và phê duyệt như thế nào? Chất lượng ĐTM có khách quan không? ĐTM được đưa vào quản lý và giám sát như thế nào trong quá trình thực hiện dự án và kiểm soát tác động môi trường lâu dài ra sao?

ĐTM có ý nghĩa hay không là phụ thuộc chính vào chất lượng và tính khả thi của chính ĐTM. Kẽ hở của ĐTM phụ thuộc phần lớn vào Hội đồng đánh giá và cấp phê duyệt. Làm thế nào để ĐTM được đánh giá bởi các chuyên gia có trình độ năng lực và có tâm, khách quan, vô tư, giúp năng cao nhận thức, trách nhiệm BVMT của chủ đầu tư, đồng thời giám sát được các hoạt động gây tác hại môi trường của dự án.

Rủi ro đầu tư hoàn toàn có thể ngăn chặn hoặc giảm thiểu trước khi khởi công dự án, hoặc xem xét kỹ khi lập dự án khả thi. Tất nhiên chủ đầu tư và các tư vấn dự án đương nhiên sẽ phải cân nhắc về thủ tục và nội dung ĐTM cần phải lập và phê duyệt ngay trong khi dự án mới hình thành ở mức ý tưởng. Vì vậy, tôi không nghĩ rằng ĐTM phải bắt buộc lập và phê duyệt ngay trong giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi thì mới giảm thiểu rủi ro cho dự án.

Chất lượng của ĐTM là quan trọng nhất. ĐTM phải được hiện thực hóa trong kế hoạch quản lý môi trường của cả đời dự án và kiểm soát môi trường trong suốt các hoạt động của dự án. Đồng thời ĐTM vẫn có thể phải bổ sung và điều chỉnh phù hợp với các hoạt động phát sinh hoặc các hoạt động chưa được kiểm soát hết tác hại môi trường. ĐTM không phải là một công cụ bất biến, mà ngược lại ĐTM cũng không phải có thể thay đổi theo ý đồ của chủ đầu tư hay nhóm lợi ích nào."

Trần Hải, Nguyễn Thương thực hiện

Hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường

Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005;

Căn cứ Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;

Căn cứ Nghị định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ Tài nguyên và Môi trường;

Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn chi tiết thực hiện một số nội dung về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường như sau:

I. QUY ĐỊNH CHUNG

1. Phạm vi điều chỉnh

1.1. Thông tư này hướng dẫn chi tiết thực hiện một số nội dung về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường quy định tại Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005 (sau đây gọi là Luật Bảo vệ môi trường) và Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường (sau đây gọi là Nghị định số 80/2006/NĐ-CP), bao gồm:

a) Lập, thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược;

b) Lập, thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung; thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các nội dung bảo vệ môi trường trong báo cáo đánh giá tác động môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung và các yêu cầu của quyết định phê duyệt;

c) Lập, đăng ký và xác nhận bản cam kết bảo vệ môi trường.

1.2. Thông tư này không áp dụng đối với các cơ sở đã đi vào hoạt động (còn được gọi là cơ sở đang hoạt động), kể cả những cơ sở mà trước đó không thực hiện các quy định về lập, thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường.

1.3. Các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng và thuộc phạm vi bí mật quốc gia được hướng dẫn tại văn bản khác.

2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài (sau đây gọi chung là tổ chức, cá nhân) có hoạt động liên quan đến những nội dung nêu tại điểm 1.1 mục 1 Phần I của Thông tư này.

3. Áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường

Khi lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc bản cam kết bảo vệ môi trường của dự án phải áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường của Việt Nam bắt buộc phải áp dụng; tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường bắt buộc phải áp dụng theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

II. LẬP, THẨM ĐỊNH BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC

1. Lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược

1.1. Cơ quan được giao nhiệm vụ lập dự án thuộc đối tượng phải lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược quy định tại Điều 14 của Luật Bảo vệ môi trường (sau đây gọi là chủ dự án) thành lập tổ công tác về đánh giá môi trường chiến lược gồm các chuyên gia về môi trường, các nhà khoa học liên quan có trình độ, chuyên môn phù hợp với nội dung, tính chất của dự án để tiến hành công tác đánh giá môi trường chiến lược và lập báo cáo đánh giá môi trường chiến lược của chiến lược (quy hoạch, kế hoạch).

1.2. Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược phải được thể hiện theo đúng cấu trúc và đáp ứng những yêu cầu về nội dung quy định tại Phụ lục 1 kèm theo Thông tư này.

2. Gửi hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược

2.1. Chủ dự án gửi hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược đến cơ quan tổ chức việc thẩm định quy định tại khoản 7 Điều 17 của Luật Bảo vệ môi trường.

2.2. Số lượng và mẫu hồ sơ đề nghị thẩm định được quy định như sau:

a) 01 (một) văn bản đề nghị thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược theo mẫu quy định tại Phụ lục 2 kèm theo Thông tư này;

b) 07 (bảy) bản báo cáo đánh giá môi trường chiến lược của dự án được đóng thành quyển theo mẫu quy định tại Phụ lục 3 kèm theo Thông tư này, có chữ ký kèm theo họ tên, chức danh của chủ dự án và đóng dấu ở trang phụ bìa của từng bản báo cáo;

c) 01 (một) dự thảo văn bản chiến lược (quy hoạch, kế hoạch).

2.3. Trong trường hợp số lượng thành viên hội đồng thẩm định cần nhiều hơn 07 (bảy) người, hoặc trong trường hợp cần thiết khác do yêu cầu của công tác thẩm định, chủ dự án cung cấp thêm số lượng báo cáo đánh giá môi trường chiến lược theo yêu cầu của cơ quan tổ chức việc thẩm định.

3. Thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược

3.1. Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ và đáp ứng yêu cầu để thẩm định, cơ quan tổ chức việc thẩm định thành lập hội đồng thẩm định; số lượng thành viên hội đồng thẩm định được quyết định căn cứ vào quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 17 của Luật Bảo vệ môi trường, tính chất, quy mô của dự án và những yêu cầu đặt ra về môi trường, nhưng phải bảo đảm ít nhất là 07 (bảy) thành viên.

3.2. Trong thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 12 của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP, cơ quan tổ chức việc thẩm định phải hoàn tất việc thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược.

3.3. Tổ chức và hoạt động của hội đồng thẩm định thực hiện theo Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường ban hành kèm theo Quyết định số 13/2006/QĐ-BTNMT ngày 08 tháng 9 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường.

3.4. Việc gửi báo cáo kết quả thẩm định được thực hiện theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 10 của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP.

III. LẬP, THẨM ĐỊNH VÀ PHÊ DUYỆT BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG; THỰC HIỆN, KIỂM TRA, XÁC NHẬN VIỆC THỰC HIỆN CÁC NỘI DUNG TRONG BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

1. Lập báo cáo đánh giá tác động môi trường

1.1. Tổ chức, cá nhân là chủ dự án đầu tư thuộc đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường quy định tại Phụ lục I và Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 80/2006/NĐ-CP (sau đây gọi là chủ dự án) tự tổ chức hoặc thuê tổ chức dịch vụ tư vấn có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 8 của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP để tiến hành công tác đánh giá tác động môi trường và lập báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án.

1.2. Báo cáo đánh giá tác động môi trường phải được thể hiện theo đúng cấu trúc và đáp ứng những yêu cầu về nội dung quy định tại Phụ lục 4 kèm theo Thông tư này.

2. Tham vấn ý kiến cộng đồng

2.1. Chủ dự án gửi văn bản đến Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã thông báo về những nội dung cơ bản của dự án, những tác động xấu về môi trường của dự án, những biện pháp giảm thiểu tác động xấu về môi trường sẽ áp dụng và đề nghị góp ý kiến bằng văn bản.

2.2. Trong trường hợp Ủy ban nhân dân hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã có yêu cầu đối thoại, chủ dự án phải phối hợp thực hiện. Kết quả cuộc đối thoại được ghi thành biên bản, trong đó phản ánh đầy đủ những ý kiến đã thảo luận, ý kiến tiếp thu hoặc không tiếp thu của chủ dự án; biên bản có chữ ký (ghi họ tên, chức danh) của người chủ trì cuộc đối thoại và chủ dự án hoặc đại diện chủ dự án, kèm theo danh sách đại biểu tham dự.

2.3. Những ý kiến tán thành, không tán thành của Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, của đại biểu tham dự cuộc đối thoại phải được thể hiện trong nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường.

2.4. Các văn bản góp ý kiến của Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã, biên bản cuộc đối thoại và các văn bản tham vấn cộng đồng khác (nếu có) phải được sao và đính kèm trong phần phụ lục của báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án.

3. Gửi hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường

3.1. Chủ dự án gửi hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đến cơ quan tổ chức việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường quy định tại khoản 7 Điều 21 của Luật Bảo vệ môi trường.

3.2. Số lượng và mẫu hồ sơ đề nghị thẩm định được quy định như sau:

a) 01 (một) văn bản của chủ dự án đề nghị thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường theo mẫu tại Phụ lục 5 kèm theo Thông tư này;

b) 07 (bảy) bản báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án được đóng thành quyển theo mẫu quy định tại Phụ lục 6 kèm theo Thông tư này, có chữ ký kèm theo họ tên, chức danh của chủ dự án và đóng dấu ở trang phụ bìa của từng bản báo cáo;

c) 01 (một) bản dự thảo báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo đầu tư của dự án.

3.3. Trường hợp số lượng thành viên Hội đồng thẩm định cần nhiều hơn 07 (bảy) người, hoặc trong trường hợp cần thiết khác do yêu cầu của công tác thẩm định, chủ dự án phải cung cấp thêm số lượng báo cáo đánh giá tác động môi trường theo yêu cầu của cơ quan tổ chức việc thẩm định.

4. Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường thông qua hình thức Hội đồng

4.1. Sau khi nhận được hồ sơ hợp lệ và đáp ứng yêu cầu để thẩm định; cơ quan tổ chức việc thẩm định thành lập Hội đồng thẩm định; số lượng thành viên Hội đồng thẩm định được quyết định căn cứ vào quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 21 của Luật Bảo vệ môi trường, tính chất, quy mô của dự án và những yêu cầu đặt ra về môi trường, nhưng phải bảo đảm ít nhất là 07 (bảy) thành viên.

4.2. Tổ chức và hoạt động của Hội đồng thẩm định thực hiện theo Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường ban hành kèm theo Quyết định số 13/2006/QĐ-BTNMT ngày 08 tháng 9 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

5. Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường thông qua tổ chức dịch vụ thẩm định

5.1. Tổ chức được tuyển chọn thực hiện dịch vụ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực chuyên môn phù hợp với yêu cầu thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án;

b) Có đủ phương tiện, thiết bị, cơ sở vật chất - kỹ thuật, phòng thí nghiệm với chất lượng và độ tin cậy cần thiết để đo đạc, lấy mẫu, xử lý, phân tích các mẫu về môi trường và các mẫu liên quan khác phù hợp với tính chất của dự án và địa điểm thực hiện dự án; trường hợp không đáp ứng yêu cầu thì phải ký hợp đồng thuê tổ chức, cá nhân đáp ứng yêu cầu đặt ra;

c) Có các điều kiện khác theo quy định của pháp luật có liên quan.

5.2. Hoạt động của tổ chức dịch vụ thẩm định thực hiện theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

6. Hoàn chỉnh báo cáo đánh giá tác động môi trường

6.1. Trong thời hạn không quá 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết quả của Hội đồng thẩm định hoặc của tổ chức dịch vụ thẩm định, cơ quan tổ chức việc thẩm định có văn bản thông báo cho chủ dự án biết kết quả thẩm định và những yêu cầu về việc hoàn chỉnh hoặc lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường.

6.2. Trường hợp báo cáo đánh giá tác động môi trường cần được tiếp tục hoàn chỉnh, chủ dự án tiến hành hoàn chỉnh, ký vào góc trái phía dưới từng trang và nhân bản với số lượng như sau để gửi cơ quan tổ chức việc thẩm định kèm theo văn bản giải trình cụ thể về việc hoàn chỉnh này để được xem xét, phê duyệt:

a) Đối với báo cáo đánh giá tác động môi trường thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ Tài nguyên và Môi trường, số lượng báo cáo bảo đảm đủ để gửi đến các địa chỉ: Bộ Tài nguyên và Môi trường (04 bản kèm theo 01 bản được ghi trên đĩa CD); Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thuộc địa bàn dự án (01 bản); Bộ, ngành quản lý dự án (01 bản). Trường hợp dự án nằm trên diện tích đất của từ 02 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên, gửi thêm số lượng bản báo cáo đánh giá tác động môi trường bằng số lượng các tỉnh tăng thêm;

b) Đối với báo cáo đánh giá tác động môi trường thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, số lượng báo cáo bảo đảm đủ để gửi tới các địa chỉ: Bộ, ngành quản lý dự án (03 bản kèm theo 01 bản được ghi trên đĩa CD); Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thuộc địa bàn dự án (01 bản); Bộ Tài nguyên và Môi trường (01 bản).

c) Đối với báo cáo đánh giá tác động môi trường thuộc thẩm quyền phê duyệt của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, số lượng báo cáo bảo đảm đủ để gửi tới Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có dự án là 03 bản kèm theo 01 bản được ghi trên đĩa CD.

7. Thẩm định lại báo cáo đánh giá tác động môi trường

7.1. Trường hợp báo cáo đánh giá tác động môi trường không được Hội đồng thẩm định hoặc tổ chức dịch vụ thẩm định thông qua, việc thẩm định lại được thực hiện theo đề nghị của chủ dự án.

7.2. Việc thẩm định lại báo cáo đánh giá tác động môi trường do Hội đồng thẩm định hoặc tổ chức dịch vụ thẩm định đó tiến hành; trường hợp cần thiết, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường thành lập Hội đồng mới hoặc tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định khác để thẩm định lại.

8. Phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường

8.1. Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường được lập theo mẫu quy định tại Phụ lục 7 kèm theo thông từ này.

8.2. Trường hợp xét thấy có khả năng xảy ra những tác động xấu về môi trường nhưng chưa được đánh giá một cách đầy đủ trong báo cáo đánh giá tác động môi trường vì nguyên nhân khách quan như: chưa có số liệu chi tiết của dự án hoặc số liệu về hiện trạng và sức chịu tải của môi trường xung quanh, việc đánh giá rủi ro chưa đủ tin cậy và nguyên nhân bất khả kháng khác cho đến thời điểm phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phải có lưu ý ở phần các yêu cầu kèm theo của quyết định phê duyệt.

9. Xác nhận và gửi hồ sơ báo cáo đánh giá tác động môi trường đã phê duyệt

9.1 Sau khi báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt xác nhận vào mặt sau trang phụ bìa của từng bản báo cáo đánh giá tác động môi trường theo mẫu quy định tại Phụ lục 8 kèm theo Thông tư này.

9.2. Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt có trách nhiệm gửi báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được xác nhận kèm theo quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường cho chủ dự án và các cơ quan liên quan khác theo quy định tại điểm 6.2 mục 6 Phần III của Thông tư này; gửi bản chính và bản sao quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 15 của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP.

10. Lập, thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung

10.1. Chủ dự án thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 13 của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP có trách nhiệm lập báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung trình cơ quan đã phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án để thẩm định và phê duyệt trước khi triển khai thực hiện.

10.2. Báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung được thể hiện theo cấu trúc và đáp ứng được những yêu cầu về nội dung quy định tại Phụ lục 9 kèm theo Thông tư này.

10.3. Số lượng và mẫu hồ sơ đề nghị thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung được quy định như sau:

a) 01 (một) văn bản đề nghị thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung theo mẫu quy định tại Phụ lục 10 kèm theo Thông tư này;

b) 05 (năm) bản báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung được đóng thành quyển theo mẫu quy định tại Phụ lục 11 kèm theo Thông tư này, có chữ ký kèm theo họ tên, chức danh của chủ dự án và đóng dấu ở trang phụ bìa. Trong trường hợp cần thiết do yêu cầu của công tác thẩm định, chủ dự án phải cung cấp thêm số lượng báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung theo yêu cầu của cơ quan thẩm định;

c) 01 (một) bản sao báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt trước đó;

d) 01 (một) bản sao có công chứng của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường trước đó;

đ) 01 (một) bản giải trình về những nội dung điều chỉnh của dự án.

10.4. Việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung được thực hiện thông qua hình thức lấy ý kiến bằng văn bản của các nhà khoa học, quản lý có chuyên môn, trình độ phù hợp; trường hợp cần thiết lấy thêm ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở địa phương nơi có dự án. Ý kiến nhận xét, đánh giá được thể hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 12 kèm theo Thông tư này.

10.5. Trường hợp hồ sơ chưa hợp lện, chưa đáp ứng yêu cầu để thẩm định, trong thời hạn không quá 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan tổ chức việc thẩm định phải có văn bản thông báo cho chủ dự án biết rõ lý do để bổ sung, hoàn chỉnh.

10.6. Quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung được lập theo mẫu quy định tại Phụ lục 13 kèm theo Thông tư này và có giá trị đi kèm với quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường trước đó. Trường hợp không phê duyệt, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phải trả lời bằng văn bản cho chủ dự án và nêu rõ lý do.

10.7. Báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung đã phê duyệt phải được xác nhận ở mặt sau trang phụ bìa theo mẫu quy định tại Phụ lục 8 kèm theo Thông tư này.

10.8. Số lượng các bản báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung được phê duyệt và xác nhận phải bảo đảm đủ để gửi kèm theo bản chính của quyết định phê duyệt bổ sung tới những địa chỉ đã nhận quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường trước đó.

11. Nội dung, hình thức của báo cáo, thông báo của chủ dự án về việc thực hiện các nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường

11.1 Văn bản báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi thực hiện dự án về nội dung quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án được thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 14 kèm theo Thông tư này.

11.2. Bản tóm tắt báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt được thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 15 kèm theo Thông tư này.

11.3. Báo cáo về kế hoạch xây lắp các công trình xử lý môi trường và công trình bảo vệ môi trường được lập theo mẫu quy định tại Phụ lục 16 kèm theo Thông tư này.

11.4. Báo cáo kế hoạch vận hành thử nghiệm các công trình xử lý và bảo vệ môi trường được thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 17 kèm theo Thông tư này.

11.5. Báo cáo việc đã thực hiện các nội dung của báo cáo và yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án được thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 18 kèm theo Thông tư này.

11.6. Văn bản đề nghị xác nhận về việc đã thực hiện các nội dung của báo cáo và yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án được thực hiện theo mẫu quy định tại Phụ lục 19 kèm theo Thông tư này.

12. Kiểm tra việc thực hiện các nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường bổ sung

12.1. Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường cử đại diện phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở địa phương tiến hành kiểm tra việc thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt theo quy định tại điểm c và điểm d khoản 3 Điều 15 của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP. Trường hợp cần thiết, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường thành lập đoàn kiểm tra. Quyết định thành lập đoàn kiểm tra được lập theo mẫu quy định tại Phụ lục 20 kèm theo Thông tư này.

12.2. Hoạt động kiểm tra, xem xét để xác nhận việc thực hiện các nội dung của báo cáo và yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án theo quy định tại khoản 3 Điều 16 của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP bao gồm:

a) Nghiên cứu, xem xét hồ sơ đề nghị xác nhận do chủ dự án gửi tới;

b) Tiến hành kiểm tra lại địa điểm thực hiện dự án.

12.3. Kết quả kiểm tra được lập thành biên bản theo mẫu quy định tại Phụ lục 21 kèm theo Thông tư này và phải được người đại diện của cơ quan có trách nhiệm kiểm tra, chủ dự án và đại diện cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường địa phương ký.

13. Xác nhận việc thực hiện các nội dung của báo cáo và yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường

13.1. Giấy xác nhận dự án thực hiện các nội dung của báo cáo và yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường được lập theo mẫu quy định tại Phụ lục 22 kèm theo Thông tư này. Trường hợp chưa đủ điều kiện để xác nhận, cơ quan có thẩm quyền xác nhận có trách nhiệm thông báo cho chủ dự án biết rõ lý do.

13.2. Giấy xác nhận được đính kèm với quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án để tiện kiểm tra, theo dõi.

14. Giám định kỹ thuật đối với công trình xử lý và bảo vệ môi trường

14.1. Việc giám định kỹ thuật đối với công trình xử lý và bảo vệ môi trường thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư và xây dựng.

14.2. Tổ chức đã thiết kế, xây lắp công trình, hạng mục công trình xử lý và bảo vệ môi trường của dự án không được thực hiện việc giám định kỹ thuật đối với công trình hoặc hạng mục công trình đó.

IV. LẬP, ĐĂNG KÝ, XÁC NHẬN BẢN CAM KẾT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

1. Lập bản cam kết bảo vệ môi trường

1.1. Chủ dự án thuộc các đối tượng phải có bản cam kết bảo vệ môi trường quy định tại Điều 24 của Luật Bảo vệ môi trường (sau đây gọi là chủ dự án) có trách nhiệm lập bản cam kết bảo vệ môi trường.

1.2. Cấu trúc và yêu cầu nội dung của bản cam kết bảo vệ môi trường được thực hiện theo quy định tại Phụ lục 23 kèm theo Thông tư này.

2. Đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường

2.1. Chủ dự án có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường đến Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có dự án hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã được ủy quyền để đăng ký và cấp giấy xác nhận.

2.2. Trường hợp dự án nằm trên địa bàn quản lý của từ 02 (hai) huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên, chủ dự án tự lựa chọn Ủy ban nhân dân của một huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh để gửi hồ sơ đề nghị đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường.

2.3. Số lượng và mẫu hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường được quy định như sau:

a) 01 (một) văn bản đề nghị xác nhận đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường theo mẫu quy định tại Phụ lục 24 kèm theo Thông tư này;

b) 03 (ba) bản cam kết bảo vệ môi trường theo mẫu quy định tại Phụ lục 25 kèm theo Thông tư này có chữ ký theo họ tên, chức danh của chủ dự án và đóng dấu ở trang phụ bìa của từng bản; trường hợp ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận, gửi thêm 01 (một) bản cam kết bảo vệ môi trường (đối với dự án nằm trên địa bàn của 01 huyện); trường hợp dự án nằm trên địa bàn từ 02 (hai) huyện trở lên, gửi thêm số lượng bản cam kết bảo vệ môi trường bằng số lượng các huyện tăng thêm.

c) 01 (một) bản dự thảo báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo giải trình về đầu tư của dự án.

3. Xác nhận đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường

3.1. Trường hợp hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc cấp xã được ủy quyền phải hoàn thành việc cấp giấy xác nhận đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường cho chủ dự án theo mẫu quy định tại Phụ lục 26 kèm theo Thông tư này.

3.2. Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận đăng ký phải có xác nhận vào mặt sau trang phụ bìa của từng bản cam kết bảo vệ môi trường đã được đăng ký theo mẫu quy định tại Phụ lục 8 kèm theo Thông tư này.

4. Gửi bản cam kết bảo vệ môi trường đã xác nhận

4.1. Trường hợp đăng ký và xác nhận ở cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi hồ sơ đã xác nhận đến chủ dự án 01 (một) bản cam kết bảo vệ môi trường kèm theo giấy xác nhận để thực hiện.

Trường hợp dự án nằm trên phạm vi từ 02 (hai) huyện trở lên, Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi xác nhận bản cam kết bảo vệ môi trường có trách nhiệm gửi Ủy ban nhân dân huyện có liên quan 01 (một) bản cam kết bảo vệ môi trường kèm theo giấy xác nhận.

4.2. Trường hợp đăng ký và xác nhận ở cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã gửi hồ sơ đã xác nhận đến các địa chỉ sau:

a) Chủ dự án 01 (một) bản cam kết bảo vệ môi trường kèm theo giấy xác nhận để thực hiện;

b) Ủy ban nhân dân cấp huyện 01 (một) bản cam kết bảo vệ môi trường kèm theo giấy xác nhận.

5. Ủy quyền xác nhận đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường

5.1. Ủy ban nhân dân cấp huyện ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã bằng văn bản theo mẫu quy định tại Phụ lục 27 kèm theo Thông tư này.

5.2. Trình tự, thủ tục, thời hạn đăng ký và xác nhận ở cấp xã được thực hiện theo quy định tại các mục 2, 3 và 4 phần IV của Thông tư này.

5.3. Ủy ban nhân dân cấp huyện không ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã trong trường hợp dự án nằm trên địa bàn của từ 02 (hai) huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên.

V. ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

1. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện Thông tư này.

2. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Thông tư số 490/1998/TT-BKHCNMT ngày 29 tháng 4 năm 1998 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn lập và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư.

3. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, cần phản ánh kịp thời về Bộ Tài nguyên và Môi trường để xem xét, giải quyết./.